Thủ tục lập pháp là gì năm 2024

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội bao gồm lập chương trình, thông qua chương trình, điều chỉnh chương trình, bảo đảm thực hiện chương trình. Để xây dựng chương trình, các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội và gửi đến Chính phủ, trong đó nêu rõ: Sự cần thiết ban hành văn bản, xác định đối tượng phạm vị điều chỉnh của văn bản, các điều kiện cần thiết soạn thảo văn bản. Kiến nghị về luật của đại biểu cũng được gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ.

Theo quy định của Hiến pháp, chủ thể sáng kiến luật của Quốc hội Lào rất rộng so với nhiều nghị viện tư sản: Không chỉ bao gồm các đại biểu Quốc hội, các cơ quan thuộc Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ mà còn có cả Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Mặt trận Lào xây dựng đất nước và các tổ chức đoàn thể ở Trung ương. Tuy nhiên, trong lịch sử lập pháp của Quốc hội Lào hầu như không có dự án luật nào được trình ra từ một đại biểu, bởi các đại biểu Quốc hội thường hoạt động kiêm nhiệm, không có chuyên môn kỹ thuật lập pháp cao, do vậy việc xây dựng một dự án luật hoàn chỉnh là điều khó thực hiện. Chính vì vậy Hiến pháp đã quy định đại biểu không chỉ được quyền trình dự án luật mà còn trình cả những kiến nghị về luật. Ủy ban pháp luật của Quốc hội phối hợp các cơ quan hữu quan thẩm tra dự kiến chương trình. Trên cơ sở dự kiến của Chính phủ, đề nghị của các chủ thể có liên quan, Ủy ban Thường vụ Quốc hội lập dự án chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Chương trình này bao gồm: Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và cả khóa. Tuy nhiên, khi xét thấy cần thiết, Quốc hội có thể điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội khi có kiến nghị điều chỉnh chương trình phải có tờ trình nêu rõ lý do.

2. Quá trình soạn thảo

Việc thành lập ban soạn thảo có liên quan đến chủ thể thực hiện quyền trình dự án luật. Theo quy định cơ quan, tổ chức trình dự án luật, dự án pháp lệnh thành lập Ban soạn thảo. Trường hợp dự án luật và pháp lệnh có nội dung liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập ban soạn thảo gồm đại diện có thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức có liên quan. Ban soạn thảo chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng của dự án.

3. Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh

Sau khi xây dựng xong dự án luật, Ban soạn thảo phải chuyển dự án đến Ủy ban Pháp luật và các Ủy ban khác có liên quan để xem xét, thẩm tra trước. Việc thẩm tra này thuộc thẩm quyền của Ủy ban Pháp luật và các ủy ban khác của Quốc hội. Trong đó, Ủy ban Pháp luật với tư cách là cơ quan giúp Quốc hội về lĩnh vực lập pháp phải chịu trách nhiệm lớn hơn. Nếu như các dự án luật có liên quan lĩnh vực chuyên ngành kinh tế - xã hội thì các ủy ban chuyên ngành tương ứng chỉ chịu trách nhiệm về nội dung còn kỹ thuật lập pháp do Ủy ban Pháp luật đảm nhiệm.

4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét cho ý kiến về dự án luật

Sau khi các cơ quan, tổ chức, các đại biểu Quốc hội trình dự án luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét cho ý kiến. Tùy theo tính chất, nội dung của dự án, có thể xem xét cho ý kiến về dự án một lần hoặc nhiều lần. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ban soạn thảo phải nghiên cứu, tiếp thu ý kiến và chỉnh lý dự án. Nếu ban soạn thảo có ý kiến khác Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì phải báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.

5. Lấy ý kiến về dự án luật

Lấy ý kiến cho các dự án bao gồm: Lấy ý kiến của đại biểu Quốc hội và lấy ý kiến của nhân dân về dự án luật, pháp lệnh. Trong quá trình soạn thảo nếu được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý thì dự án luật phải được gửi lấy ý kiến đại biểu Quốc hội và được tập hợp thông qua Văn phòng Quốc hội. Công dân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp góp ý kiến về dự án luật qua Văn phòng Quốc hội, cơ quan soạn thảo hoặc phương tiện thông tin đại chúng. Các tổ chức đoàn thể tổ chức tốt việc lấy ý kiến của nhân dân, các cơ quan hữu quan có trách nhiệm tập hợp ý kiến, nghiên cứu tiếp thu để chỉnh lý dự án.

6. Thông qua dự án luật

Tại bước này, chủ thể trình dự án thuyết trình trước Quốc hội về dự án luật, pháp lệnh. Sau đó, các Ủy ban được giao thẩm tra dự án trình báo cáo thẩm tra trước Quốc hội về dự án đó. Quốc hội thảo luận và biểu quyết thông qua dự án luật, pháp lệnh bằng hai cách: Biểu quyết từng điều, từng chương; nghe đọc toàn văn dự án rồi biểu quyết toàn bộ dự án một lần.

Luật, pháp lệnh phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tán thành. Việc thông qua, sửa đổi Hiến pháp phải có ít nhất 2/3 số đại biểu biểu quyết tán thành.

7. Công bố văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành

Quyền công bố luật, nghị quyết của Quốc hội thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Nước trong thời hạn chậm nhất 30 ngày kể từ ngày luật, nghị quyết được thông qua. (Điều 60 Hiến pháp sửa đổi năm 2003. Tuy nhiên, khác với chế định nguyên thủ quốc gia ở các nước tư bản, Chủ tịch Nước không có quyền phủ quyết các dự án Luật đã được Quốc hội thông qua. Đây cũng là một quy định thể hiện quyền lực tối cao của Quốc hội.

Bên cạnh đó, Hiến pháp cũng có quy định Chủ tịch Nước được quyền kiến nghị Quốc hội xem xét lại các luật đã được Quốc hội thông qua. Nếu luật đưa ra xem xét lại đó vẫn được Quốc hội thông qua thì luật được Chủ tịch Nước công bố trong thời hạn 15 ngày.

Tuy nhiên, vẫn còn thiếu nhiều quy định cụ thể, nhất là các quy định về quy trình các giai đoạn, các bước từ khi lập chương trình xây dựng luật, soạn thảo, lấy ý kiến, đánh giá tác động xã hội của văn bản, thẩm định, thẩm tra, thảo luận, thông qua, công bố luật; thể thức, ngôn ngữ, cơ cấu nội dung từng loại văn bản như hiến pháp, các bộ luật, luật, pháp lệnh, sắc lệnh…