Kể tóm tắt chiến thắng của quân Tây Sơn diệt họ Trịnh và kết quả

Kể từ năm 1787, với sự giúp đỡ mạnh mẽ hơn của người Pháp thông qua giám mục Pigneau de Béhaine (tức Bá Đa Lộc), Nguyễn Ánh quay trở lại Gia Định. Trước đó, ngày 25 tháng 1 năm 1787, Bá Đa Lộc (giáo sĩ người Pháp làm cố vấn cho Nguyễn Ánh) đã thay mặt Nguyễn Ánh ký Hiệp ước Versailles (1787) với Pháp. Theo đó, vua Pháp đồng ý cử sang 4 chiếc tàu chiến và một đạo binh: 1.200 lục quân, 200 pháo binh, 250 lính da đen ở Phi Châu (Cafres) và đủ các thứ súng ống thuốc đạn để đánh Tây Sơn. Ngược lại, sau khi chiến thắng, Nguyễn Ánh phải nhường đứt cho nước Pháp cửa Hội An (Faifo) và đảo Côn Lôn (Poulo-Condore), chủ quyền các vùng đất đó sẽ vĩnh viễn thuộc về nước Pháp ngay lúc quân đội Pháp chiếm đóng hòn đảo nói trên. Đúng lúc đó thì nước Pháp xảy ra Cách mạng, vua Pháp không thực hiện Hiệp ước nhưng Bá đa lộc đã kêu gọi các thương nhân người Pháp trợ giúp cho Nguyễn Ánh.

Các hoạt động quyên góp tiền sau này hay xây dựng, sửa sang thành Gia Định, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Biên Hòa, Bà Rịa, huấn luyện cơ đội pháo thủ, tổ chức bộ binh và rèn luyện tập binh lính theo lối châu Âu, trung gia mua tàu chiến và vũ khí... đều có sự góp sức của những người Pháp mà do Bá Đa Lộc chiêu mộ, kêu gọi. Việc củng cố Gia Định cộng thêm sự giúp đỡ của người Pháp đã giúp cho thế lực của Nguyễn Ánh ngày càng mạnh, có thể đối đầu với Tây Sơn.

Nhà nghiên cứu Maybon, trong cuốn sách "La Relation Bissachère và Histoire moderne du pays d’Annam", in năm 1920 tổng kết công trạng của những người Pháp do Bá Đa Lộc chiêu mộ trong việc trợ giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn như sau:

“Vai trò của nhóm người can đảm đếm trên đầu ngón tay này, trong sự thiếu vắng thông tin mong đợi, không thể xác định được một cách chi tiết. Nhưng không thể chối cãi được rằng họ đã góp phần lớn lao vào chiến thắng của Nguyễn Ánh. Ấy là chưa kể đến phần của họ trong những trận đánh quan trọng như trận tiêu diệt hạm đội của Tây Sơn năm 1792 và những trận dẫn đến chiến thắng Huế năm 1801. Người ta không khỏi khâm phục công trình tạo mà họ đã thực hiện trong những điều kiện không mấy thuận lợi: họ đã xây dựng một nền hải quân theo lối Tây phương và thành lập đội ngũ thủy binh; họ đã huấn luyện quân đội, họ đã đưa kỷ luật vào quân đội, thành lập những cấp chỉ huy; họ đã đúc đại bác, dạy cho người An Nam cách dùng trái phá, họ đã tạo ra đội ngũ pháo binh lưu động mà sự di chuyển đã khiến quân Tây Sơn khiếp viá; họ đã xây dựng những thành đài”

Trong lúc Nguyễn Huệ bận đối phó tình hình Bắc Hà, Nguyễn Lữ qua đời, Nguyễn Nhạc bất lực, Ánh nhanh chóng chiếm lại đất đai ở Nam Bộ rồi đánh lấn ra Diên Khang, Bình Thuận - đất của Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc già yếu không cứu được chỉ còn lo giữ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Phú Yên.

Khi nghe tin quân Thanh giúp Chiêu Thống sang đánh Tây Sơn va đã tiến chiếm Thăng Long, Nguyễn Ánh từng sai người chở 50 vạn cân gạo ra giúp quân Thanh để có thêm thế lực trợ giúp việc đánh Tây Sơn, nhưng thuyền đi giữa đường bị đắm hết.

Gia tộc bị chia rẽ

Sau khi được anh trai là Nguyễn Nhạc trao lại binh quyền, vua Quang Trung đang định chuẩn bị đem quân vào Nam đánh Gia Định thì đột ngột qua đời (1792). Con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, tức là vua Cảnh Thịnh. Không có người lãnh đạo đủ năng lực, nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu. Nội bộ xảy ra tranh chấp, quyền hành rơi vào tay ngoại thích Bùi Đắc Tuyên.

Năm 1793, Nguyễn Ánh đem quân đánh Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc cầu cứu ra triều đình Phú Xuân. Quang Toản sai Ngô Văn Sở, Phạm Công Hưng đem 17.000 quân và 80 thớt voi vào cứu, quân Nguyễn Ánh rút lui. Quân Phú Xuân nhân đó lại chiếm luôn đất đai của Nguyễn Nhạc. Lúc đó Nguyễn Nhạc đang bệnh trên giường, nghe tin đất phong của con mình là Nguyễn Văn Bảo bị chiếm mất thì uất quá thổ huyết mà qua đời. Quang Toản an trí Nguyễn Văn Bảo ra huyện Phù Ly, phế làm Hiếu Công và cai quản toàn bộ đất đai của dòng trưởng.

Tuy nhiên nội bộ Tây Sơn lại mâu thuẫn, các tướng tranh quyền. Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở (1795), Quang Toản nhỏ tuổi nên không làm gì được. Trần Quang Diệu đang đi đánh Nguyễn Ánh, nghe tin bị nghi oan đành rút quân về. Nguyễn Văn Bảocùng các tướng cũ nổi dậy chiếm Quy Nhơn nhưng bị dập tắt và giết chết. Lê Trung bị nghi ngờ sau đó bị giết, Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết.

Tây Sơn sụp đổ

Biến loạn tạm thời dẹp yên nhưng đã làm chính quyền Tây Sơn suy sụp. Do Quang Toản đã giết Lê Trung trong vụ biến loạn tại Phú Xuân nên con rể Trung là Lê Chất bỏ sang hàng Nguyễn Phúc Ánh. Ánh nhân thời cơ đó ra sức Bắc tiến.

Năm 1800, Nguyễn Ánh chiếm được Quy Nhơn, tướng Vũ Tuấn đầu hàng. Quang Toản sai Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đem quân vào chiếm lại. Tướng của Nguyễn Ánh là Võ Tánh tử thủ cầm chân hai danh tướng Tây Sơn trong hơn một năm. Năm 1801, Nguyễn Ánh nhận thấy tinh binh Tây Sơn đều tập trung cả ở chiến trường Quy Nhơn nên mang quân chủ lực vượt biển ra đánh Phú Xuân. Quang Toản thua trận bỏ chạy ra Bắc.

Đầu năm 1802, Tây Sơn chiếm lại thành Quy Nhơn, Võ Tánh tự vẫn. Nhưng lúc đó Nguyễn Ánh đã ồ ạt Bắc tiến tới Nghệ An. Trần Quang Diệu vội mang quân ra cứu, bị quân Nguyễn chặn đường, phải vòng qua đường Vạn Tượng (Lào). Tới Nghệ An thì thành đã mất, quân sĩ bỏ chạy gần hết, vợ chồng Trần Quang Diệu - Bùi Thị Xuân bị bắt, Vũ Văn Dũng không biết trốn đi đâu.

Giữa năm 1802 Nguyễn Ánh tiến ra chiếm được Thăng Long, Quang Toản không chống nổi, bỏ chạy và bị bắt. Nguyễn Ánh đã trả thù gia đình Quang Toản những người theo Tây Sơn vô cùng tàn bạo: Quang Toản bị 5 ngựa xé xác. Mộ của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã thành bột nhồi vào thuốc súng và bắn đi, hộp sọ bị bỏ vào vò và giam trong ngục (Những người thương tiếc Tây Sơn vẫn gọi là "Ông Vò"). Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày, Trần Quang Diệu do thờ mẹ già 80 tuổi có hiếu nên không bị hành hình quá dã man mà chỉ bị chém đầu.

Nhà Nguyễn ra sức truy sát những quan lại và hậu duệ của nhà Tây Sơn. Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), quan quân nhà Nguyễn vẫn tiếp tục truy tìm hậu duệ của Tây Sơn, bắt được Nguyễn Văn Đức (con trai Nguyễn Nhạc) và Nguyễn Văn Đâu. Đâu là con của Đức, cả hai đều bị chém ngang lưng. Nhà Tây Sơn có còn sót lại hậu duệ nào hay không, đến nay vẫn chưa rõ ràng.

Bằng cách đăng ký, bạn đồng ý với Điều khoản sử dụng và Chính sách Bảo mật của chúng tôi.

Em hãy kể lại chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn tiêu diệt chính quyền họ Trịnh.

Đề bài

Em hãy kể lại chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn tiêu diệt chính quyền họ Trịnh.

Lời giải chi tiết

Chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn tiêu diệt chính quyền họ Trịnh như sau:

- Năm 1786, Nguyễn Huệ quyết định tiến ra Thăng Long, lật đổ chính quyền họ Trịnh.

- Khi quân Tây Sơn ập đến, quân Trịnh không kịp xuống thuyền, phần bị giết, phần bỏ chạy.

- Lúc Trịnh Khải phất cờ lệnh tấn công thù tướng sĩ nhìn nhau không dám tiến.

- Nhân cơ hội đó, quân Tây Sơn bắn đạn lửa vào, làm quân Trịnh đại bại.

- Nguyễn Huệ làm chủ được Thăng Long, lật đổ họ Trịnh, giao quyền cai trị ở Đàng Ngoài cho vua Lê (năm 1786), mở đầu việc thống nhất lại đất nước sau hơn 200 năm bị chia cắt.

Loigiaihay.com

84 lượt xem

Câu 2: Trang 60 – sgk lịch sử 4

Em hãy kể lại chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn tiêu diệt chính quyền họ Trịnh?

Bài làm:

Chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn tiêu diệt chính quyền họ Trịnh diễn ra như sau:

  • Năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc để lật đổ chính quyền họ Trịnh.
  • Trong lúc Nguyễn Huệ đang tiến quân như vũ bão thì quân Trịnh bỏ thuyền lên bờ chơi tản mát.
  • Khi quân Tây Sơn ập đến, quân Trịnh không kịp xuống thuyền, phần bị giết, phần bỏ chạy.
  • Lúc Trịnh Khải phất cờ lệnh tấn công thù tướng sĩ nhìn nhau không dám tiến.
  • Nhân cơ hội đó, quân Tây Sơn bắn đạn lửa vào, làm quân Trịnh đại bại.

Cập nhật: 07/09/2021

Chiến tranh Tây Sơn-Trịnh là cuộc nội chiến cuối thế kỷ 18 trong lịch sử Việt Nam giữa chính quyền chúa Trịnh và chính quyền nhà Tây Sơn của Nguyễn Nhạc. Cuộc chiến diễn ra trong vòng 2 tháng trong năm 1786 và kết thúc bằng thắng lợi lớn của Tây Sơn, tiêu diệt chính quyền chúa Trịnh ở Bắc Hà.

Nội chiến Việt Nam
Thời gian25 tháng 5 - 21 tháng 7 năm 1786
Địa điểm

miền Bắc Việt Nam

Kết quả Tây Sơn chiến thắng
Chính quyền Chúa Trịnh sụp đổ
Tham chiến
Quân đội chúa Trịnh
Kể tóm tắt chiến thắng của quân Tây Sơn diệt họ Trịnh và kết quả
Thương buôn Bồ Đào Nha ủng hộ
Quân đội Tây Sơn
Chỉ huy và lãnh đạo
Trịnh Khải
Trịnh Tự Quyền
Hoàng Nghĩa Hồ
Phạm Ngô Cầu
Hoàng Đình Thể
Vũ Tá Kiên
Đỗ Thế Dận
Đinh Tích Nhưỡng
Hoàng Phùng Cơ
Nguyễn Trọng Yên
Ngô Cảnh
Nguyễn Huệ
Nguyễn Hữu Chỉnh
Vũ Văn Nhậm
Nguyễn Lữ
Lực lượng
100.000-300.000
vài trăm voi chiến
không rõ
400 thuyền[1]
Thương vong và tổn thất
không rõ
1 tàu Bồ Đào Nha
không rõ

Mục lục

  • 1 Bối cảnh
  • 2 Tây Sơn chiếm thành Phú Xuân
    • 2.1 Tây Sơn ra quân
    • 2.2 Tây Sơn đánh chiếm Hải Vân
    • 2.3 Phú Xuân thất thủ
  • 3 Chiến dịch Thăng Long
    • 3.1 Tây Sơn đánh chiếm Thanh Nghệ và Sơn Nam
    • 3.2 Tây Sơn tiến ra Thăng Long
  • 4 Hậu quả và ý nghĩa
  • 5 Xem thêm
  • 6 Tham khảo
  • 7 Chú thích

Bối cảnhSửa đổi

Từ sau cuộc giao tranh năm 1672, các chúa Trịnh và chúa Nguyễn chấm dứt xung đột, lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt nước Đại Việt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài.

Một trăm năm sau, anh em Tây Sơn do Nguyễn Nhạc cầm đầu nổi dậy chống lại họ Nguyễn. Nhận thấy nội biến ở Đàng Trong là cơ hội nam tiến để diệt họ Nguyễn, năm 1774, Trịnh Sâm ở Đàng Ngoài quyết định điều đại quân vào nam. Đầu năm 1775, quân Trịnh đánh chiếm Phú Xuân, chúa Nguyễn Phúc Thuần bỏ chạy vào nam. Thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc cũng điều quân từ Quy Nhơn ra đánh Quảng Nam. Hai bên đụng độ ở trận Cẩm Sa, quân Trịnh thắng thế. Nguyễn Nhạc đầu hàng và xin làm tiên phong đánh họ Nguyễn.

Được chúa Trịnh cho hàng, Nguyễn Nhạc tập trung lực lượng đánh bại chúa Nguyễn, chiếm toàn bộ lãnh thổ từ Quảng Nam đến hết Nam Bộ. Năm 1778, sau khi giết được hai chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc tự xưng làm vua, đặt niên hiệu Thái Đức. Trịnh Sâm dù biết nhưng không hỏi đến. Năm 1782, Trịnh Sâm chết, hai con là Trịnh Khải và Trịnh Cán tranh nhau làm chúa. Trịnh Khải giết người phụ tá Hoàng Đình Bảo của Trịnh Cán (còn nhỏ), giành lấy ngôi chúa. Thủ hạ của Đình Bảo là Nguyễn Hữu Chỉnh chạy vào nam đầu hàng Tây Sơn.

Năm 1785, quân Tây Sơn đánh bại quân Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện tại trận Rạch Gầm-Xoài Mút. Nguyễn Ánh phải chạy lưu vong sang Xiêm. Nguyễn Nhạc làm chủ toàn bộ vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ, bắt đầu tính đến phía bắc.

Tây Sơn chiếm thành Phú XuânSửa đổi

Tây Sơn ra quânSửa đổi

Tháng 3 năm 1786, dân Bắc Hà bị nạn đói[2]. Sang tháng 4 năm đó, tướng trấn giữ Phú Xuân của Bắc Hà là Phạm Ngô Cầu sai sứ là Nguyễn Phú Như vào Quy Nhơn mượn tiếng trao đổi vấn đề biên giới, nhưng thực ra muốn dò tình hình Tây Sơn. Phú Như vốn có quen biết với Nguyễn Hữu Chỉnh, bèn mang tình hình Thuận Hóa nói lại. Hữu Chỉnh bèn xin Nguyễn Nhạc ra quân đánh Thuận Hóa. Nguyễn Nhạc quyết định ra quân.

Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ làm tổng chỉ huy, cùng các tướng Vũ Văn Nhậm làm tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu quân đô đốc, Nguyễn Lữ chỉ huy đội dự bị thủy quân[3]. Quân Tây Sơn tham chiến tất cả 1 vạn người[4].

Phía quân Trịnh có trên 3 vạn quân[5]. Tuy nhiên, Thuận Hóa trong nhiều năm không có chiến tranh, quân số tuy khá đông nhưng phòng thủ không chặt chẽ[6]. Chủ tướng Phạm Ngô Cầu chuyên làm việc buôn bán, không sắm sửa khí giới phòng bị lương thực[2].

Tây Sơn đánh chiếm Hải VânSửa đổi

Biết Phạm Ngô Cầu là người tin vào việc bói toán, Nguyễn Huệ sai một thủ hạ người Hoa giả làm thày bói tới Phú Xuân ra mắt quận Tạo Phạm Ngô Cầu, khuyên Cầu nên lập đàn giải hạn. Quận Tạo nghe theo, bèn lập đàn chay ở chùa Thiên Mụ trong 7 ngày 7 đêm[7]. Trong khi tướng sĩ phía Trịnh mất cảnh giác thì quân Tây Sơn bắt đầu lên đường ra bắc ngày 28 tháng 4 âm lịch tức 25 tháng 5 năm 1786[8].

Trung tuần tháng 5 âm lịch năm 1786, đạo quân bộ của Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tập kích bất ngờ nơi này, quân Trịnh không kịp trở tay. Hoàng Nghĩa Hồ mang quân ra địch bị tử trận[2].

Đánh chiếm được Hải Vân, Nguyễn Huệ lập tức thúc quân tiến thẳng ra Phú Xuân.

Phú Xuân thất thủSửa đổi

Trong khi Phạm Ngô Cầu vẫn đang cầu cúng ở chùa Thiên Mụ thì được tin Hoàng Nghĩa Hồ tử trận. Quận Tạo vội lệnh cho quân sĩ về thành chuẩn bị đối phó, nhưng các tướng sĩ vất vả đã mỏi mệt và tinh thần chiến đấu suy nhược[9].

Để ly gián các tướng Trịnh giữ Phú Xuân là Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể, Nguyễn Huệ dùng Nguyễn Hữu Chỉnh đứng tên nhân danh người quen cũ, viết thư dụ hàng Hoàng Đình Thể, song lại cố ý đưa thư nhầm cho Phạm Ngô Cầu. Phạm Ngô Cầu tiếp thư bắt đầu nghi ngờ Đình Thể không hết lòng chiến đấu. Bản thân quận Tạo cũng sinh ý định hàng Tây Sơn, bèn dìm bức thư đó không đưa cho quận Thể[2][10].

Quân Tây Sơn kéo đến sát thành Phú Xuân. Sau khi đánh đắm một tàu Bồ Đào Nha ủng hộ quân Trịnh, thủy quân Tây Sơn theo sông Hương áp sát thành, trong khi đó bộ binh Tây Sơn cũng tiến đến vây thành.

Trong thành, Phạm Ngô Cầu muốn hàng, chỉ có Hoàng Đình Thể nghênh chiến. Hoàng Đình Thể tập trung pháo trên mặt thành bắn xuống dữ dội. Bộ binh Tây Sơn phải giãn vòng vây lùi ra xa. Nguyễn Huệ điều quân bộ lên thuyền thủy binh ở bờ sông Hương, dùng đại bác bắn lên thành chống lại pháo quân Trịnh, nhưng từ mặt nước lên mặt thành quá cao nên đại bác Tây Sơn bắn không tới, buộc phải tạm ngưng chiến[11].

Lúc đó là tháng 5 đang mùa nước lũ, ban ngày mực nước thấp, tới đêm nước dâng cao. Biết quy luật nước lên xuống, Nguyễn Huệ bèn đổi chiến thuật không đánh ban ngày mà đánh ban đêm. Đêm ngày 20 tháng 5 âm lịch tức 15 tháng 6 năm 1786, nước dâng ngập chân thành Phú Xuân. Nguyễn Huệ hạ lệnh tiến công. Thủy quân Tây Sơn tiến đến nã pháo vào trong thành. Hỏa lực quân Trịnh mất tác dụng. Hoàng Đình Thể không thể dùng pháo binh chống lại quân Tây Sơn được nữa, phải cùng các con và thuộc tướng Vũ Tá Kiên mở cửa thành ra nghênh địch[2].

Đánh nhau được 1 canh giờ, Hoàng Đình Thể thuốc súng và đạn đều hết, bèn sai người vào thành xin tiếp viện, nhưng Phạm Ngô Cầu đóng cửa thành không cứu viện. Nhưng trong lúc quận Thể đang chiến đấu thì trên mặt thành, quận Tạo đã kéo cờ trắng xin hàng. Đình Thể cùng thuộc tướng Vũ Tá Kiên lần lượt tử trận. Nguyễn Huệ thúc quân ồ ạt tiến lên chiếm thành. Thuận Hóa thuộc về Tây Sơn.

Trong lúc Nguyễn Huệ tác chiến ở phía nam thì Nguyễn Lữ mang quân thủy ra sông Gianh. Khi quân Tây Sơn kéo đến, các tướng sĩ Bắc Hà đều bỏ thành lũy chạy trốn[12]. Khi quân Tây Sơn chiếm được Bố Chính sắp tiến vào Leo Heo thì quân Trịnh tại đây cũng bỏ chạy, nhưng bị dân địa phương bắt nộp cho quân Tây Sơn.

Quân Tây Sơn tiến đánh lũy Đồng Hới (lũy Thầy) do Phái Vị hầu và Ninh Tốn chỉ huy. Tuy thành lũy khá kiên cố nhưng tinh thần quân Trịnh tại đây cũng bạc nhược. Hai tướng Trịnh sợ bị đánh từ cả đường thủy lẫn đường bộ, không dám chống cự bèn theo đường núi trốn thoát về Bắc. Ngày 26 tháng 5 âm lịch tức 21 tháng 6, quân Tây Sơn chiếm đóng lũy Đồng Hới[13].

Toàn bộ lãnh thổ phía nam sông Gianh, tương đương với lãnh thổ chúa Nguyễn cai quản trước đây, thuộc về Tây Sơn[14].

Chiến dịch Thăng LongSửa đổi

Nguyễn Nhạc vốn chỉ có ý định đánh chiếm Phú Xuân. Chiến dịch Phú Xuân kết thúc đã hoàn thành kế hoạch của Nguyễn Nhạc[15]. Sau khi làm chủ địa giới từ phía Nam sông Gianh trở vào, Nguyễn Huệ đã định sửa vùng biên cũ La Hà để chia giới hạn với Bắc Hà[16], thì Nguyễn Hữu Chỉnh lại khuyên ông nên nhân cơ hội họ Trịnh suy nhược mà tấn công ra Bắc có thể giành thắng lợi. Nguyễn Huệ quyết định phát động cuộc tấn công mới ra Thăng Long[2].

Ông để Nguyễn Lữ ở lại giữ khu vực Nam sông Gianh, đưa thư về báo cho vua Thái Đức biết và tự thống lĩnh đại đội quân thủy và quân bộ tiến ra bắc. Nguyễn Nhạc nhận được thư của Nguyễn Huệ không bằng lòng với ý định tự quyết đó, sai người từ Quy Nhơn đuổi theo ngăn lại, nhưng đến nơi thì đại quân của Nguyễn Huệ đã vượt biển đi rồi[17].

Tây Sơn đánh chiếm Thanh Nghệ và Sơn NamSửa đổi

Ngày 28 tháng 6, ngoài Thăng Long nghe tin báo quân Tây Sơn đã đánh chiếm được Phú Xuân. Tuy nhiên các đại thần của triều đình Lê Trịnh lại cho rằng vì Phú Xuân vốn không phải là đất của Bắc Hà nên chỉ cần phòng giữ lấy địa giới Đàng Ngoài cũ như trước đây[2]. Nghe tin quân Tây Sơn sắp tiến ra, Trịnh Tông hạ lệnh cho Trịnh Tự Quyền làm thống tướng, đem quân lính 27 cơ tiến vào giữ lấy đầu địa giới Nghệ An để chống cự[18].

Dọc đường từ sông Gianh trở ra, Nguyễn Huệ chia làm nhiều toán quân du binh đánh chiếm các đồn trại quân Trịnh. Quân Trịnh sợ quân Tây Sơn, nhiều đồn trông thấy là bỏ chạy. Nguyễn Huệ kéo quân đến chiếm cứ lấy Thanh-Nghệ.

Trịnh Tự Quyền chuẩn bị chậm chạp, khi đem quân dời khỏi thành mới được 30 dặm, thì cánh quân Tây Sơn của Nguyễn Hữu Chỉnh đã đến Vị Hoàng[2][19].

Sáng sớm ngày 11 tháng 7 năm 1786[20], quân Trịnh bị bất ngờ vì quân Tây Sơn tiến quá nhanh, đều tan vỡ bỏ chạy[21].

Chiếm xong Vị Hoàng, Nguyễn Hữu Chỉnh báo cho Nguyễn Huệ ở Thanh Hóa biết và sai một tỳ tướng mang một toán quân tiến về Thăng Long.

Trịnh Khải nghe tin mất Vị Hoàng, lại lệnh cho Trịnh Tự Quyền tiến đến chống cự ở Kim Động, một mặt lệnh cho Đỗ Thế Dận đang trấn thủ Sơn Nam đem quân bộ tiến đến đóng ở bờ sông Phù Sa, rồi sai Đinh Tích Nhưỡng đốc lãnh các quân thủy đạo tiến thẳng đến giữ ở cửa Luộc. Các tướng Trịnh hội hợp binh lính đón đánh.

Ngày 17 tháng 7 năm 1786[22], Nguyễn Huệ tiến đại quân đến Vị Hoàng. Ông dùng kế lừa quân Trịnh, cho làm hình nộm để lên thuyền để dụ quân Trịnh bắn tên đạn ra trước cho hết tên đạn rồi sau đó mới tấn công. Quân Trịnh bị mắc lừa, mất khí thế. Quân Tây Sơn dùng toán quân nhanh nhẹn sắc bén xông thẳng vào hàng ngũ quân Đỗ Thế Dận, quân của Thế Dận kinh sợ tan vỡ. Toán quân của Đinh Tích Nhưỡng cũng bỏ thuyền chạy. Toán quân của Trịnh Tự Quyền nghe tin, cũng sợ hãi rối loạn rồi tự tan vỡ. Quân Tây Sơn đánh phá chiếm được trấn Sơn Nam.

Nguyễn Huệ tranh thủ sự ủng hộ của người dân Bắc Hà, bèn phát tờ hịch đi các lộ, bày tỏ danh nghĩa "diệt Trịnh, phò Lê". Sáng ngày 19 tháng 7, Nguyễn Huệ thúc đại quân từ Sơn Nam đánh ra Thăng Long.

Tây Sơn tiến ra Thăng LongSửa đổi

Sau khi trấn Sơn Nam đã bị quân Tây Sơn chiếm được, kinh thành Thăng Long rung động. Trịnh Tông theo kế của Trần Công Xán, bố trí phòng thủ Thăng Long như sau:

  • Cho đội thủy quân tứ thị là đội thủy quân duy nhất còn lại ở kinh thành tới dàn thuyền chiến ở bến sông Thúy Ái
  • Hoàng Phùng Cơ dàn quân đóng ở hồ Vạn Xuân;
  • Trịnh Tông tự mình đem hết quân trong thành, bày trận ở bến Tây Long, có 100 voi chiến[2].

Trong tình thế nguy cấp, quân Trịnh vẫn không cảnh giác, cho rằng quân Tây Sơn chưa thể tiến đến Thăng Long nhanh chóng[23].

Nhân lúc gió đông nam thổi mạnh, Nguyễn Huệ cho quân thủy giương buồm tiến đến kinh thành Thăng Long. Sáng ngày 21 tháng 7, thuyền quân Tây Sơn xuôi chiều gió, kéo ập đến bến Nam Dư. Về phía quân Trịnh, quân thủy tan vỡ trước. Hai viên thiên tướng là Nguyễn Trọng Yên và Ngô Cảnh đứng ở mũi thuyền chống cự, bị quân Tây Sơn giết chết.

Cánh quân Thúy Ái bị tiêu diệt. Quân Tây Sơn kéo lên bộ, tiến tới hồ Vạn Xuân. Toán quân của Phùng Cơ không kịp dàn thành hàng ngũ, bỏ chạy tan vỡ tứ tung. Thủ hạ và 6 người con đều bị tử trận, Phùng Cơ cùng 2 người con cướp lấy đường mà chạy.

Quân Tây Sơn tiến đến bến Tây Long[24]. Trịnh Tông cầm cờ lệnh chỉ huy, nhưng quân sĩ không ai chịu tiến lên. Quân Tây Sơn đổ đến chém giết, quân Trịnh tan vỡ lung tung. Trịnh Tông quay voi trở về thành thì thấy ngoài phủ đã cắm hàng loạt cờ Tây Sơn, bèn dẫn tượng binh hướng theo đường Sơn Tây chạy trốn.

Ngày 21 tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ dẫn đại quân tiến vào Thăng Long, đóng quân ở phủ chúa Trịnh.

Khi Trịnh Khải chạy đến xã Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, quân sĩ tan tác hết. Trịnh Khải gặp Lý Trần Quán là người trước đây vâng lệnh đem tờ hịch đi chiêu mộ nghĩa binh. Lý Trần Quán nhờ người học trò của mình là Nguyễn Trang hộ vệ Trịnh Tông. Nguyễn Trang phản lại Trần Quán, bắt Trịnh Tông giải đi nộp quân Tây Sơn. Trên đường đi, Trịnh Tông dùng dao cắt cổ tự tử. Nguyễn Huệ sai sắm áo quan khâm liệm mai táng cho Trịnh Tông.

Tiến vào Thăng Long, Nguyễn Huệ ổn định tình hình kinh thành. Sáng hôm sau, Nguyễn Huệ vào yết kiến vua Lê Hiển Tông ở điện Vạn Thọ, dâng sổ sách binh và dân để tỏ rõ ý nghĩa nhà vua nhất thống. Lê Hiển Tông phong Nguyễn Huệ làm Uy quốc công.

Hậu quả và ý nghĩaSửa đổi

Cuộc bắc tiến năm 1786 là cuộc chiến chính thức giữa Tây Sơn và Trịnh trên danh nghĩa là hai thực thể chính trị độc lập. Cuộc chiến kết thúc với thắng lợi hoàn toàn của Tây Sơn, chính quyền họ Trịnh cai trị Bắc Hà hơn 200 năm bị đánh đổ. Nhưng vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc không vui mừng mà trái lại tỏ ra lo lắng vì sợ khó kìm chế được Nguyễn Huệ[15] nên đã đích thân ra Bắc Hà rút toàn bộ quân đội trở về nam[25].

Sau cái chết của Trịnh Tông, các lực lượng họ Trịnh còn nổi dậy khôi phục, nhưng bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh bại. Bản thân Hữu Chỉnh sau lần ra bắc năm 1786 cũng tự ý ly khai Tây Sơn khi anh em Tây Sơn rút quân về Nam (do Nguyễn Nhạc không chủ ý chiếm đóng Bắc Hà). Vì vậy, cuộc chiến sau này giữa họ Trịnh và Nguyễn Hữu Chỉnh (cũng nhân danh phù Lê) là cuộc chiến nội bộ của Bắc Hà, không còn vai trò trực tiếp của Tây Sơn. Cuộc chiến này cũng khởi đầu cho việc xây dựng lực lượng và lãnh thổ riêng của Nguyễn Huệ trong lòng chính quyền Tây Sơn dẫn đến việc bắt đầu chia rẽ nội bộ (giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ). Tuy lần này Tây Sơn rút đi mà chưa ở lại chiếm giữ Bắc Hà nhưng thực tế sau này cho thấy hầu hết lãnh thổ mà Nguyễn Huệ thực sự quản lý khi làm hoàng đế (toàn bộ Bắc Hà kéo dài đến Quảng Nam) chính là những vùng đất ông đánh chiếm được của họ Trịnh từ cuộc chiến này.

Chiến tranh Trịnh-Tây Sơn kết thúc với chiến dịch Thăng Long 1786, được nhiều sử gia ghi nhận là mốc thời gian đánh dấu thời điểm thống nhất quốc gia Đại Việt – dù trong thời gian không dài - dưới chính quyền Tây Sơn[26][27].

Xem thêmSửa đổi

  • Chiến dịch Thăng Long (1786)
  • Chiến dịch Phú Xuân 1786

Tham khảoSửa đổi

  • Quốc sử quán triều Nguyễn (2005), Đại Nam liệt truyện, tập 2, Nhà xuất bản Thuận Hóa
  • Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1976), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
  • Đại Việt sử ký tục biên
  • Khâm định Việt sử thông giám cương mục
  • Nguyễn Phan Quang (2006), Một số công trình sử học Việt Nam, Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 4, Nhà xuất bản Khoa học xã hội

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Lương Ninh (2000), Lịch sử Việt Nam giản yếu, Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 284 – 285.
  2. ^ a b c d e f g h i Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 46
  3. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 109 - dẫn lại từ Đại Nam chính biên liệt truyện
  4. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 110 - dẫn lại theo giáo sĩ La Grand de la Liraye trong Notes historiques sur la nation annamite
  5. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 125
  6. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 111
  7. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 116, dẫn lại từ thư của Giám mục La Bartette ngày 23/6/1786
  8. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 113
  9. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 117, dẫn lại từ thư của Giám mục La Bartette ngày 23/6/1786
  10. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 116, dẫn lại từ Đại Nam thực lục và Đại Nam chính biên liệt truyện
  11. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 118, dẫn lại từ Đại Nam chính biên liệt truyện
  12. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 121
  13. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 123
  14. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 401
  15. ^ a b Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 407
  16. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, sách đã dẫn, tr 570
  17. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, sách đã dẫn, tr 564
  18. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 403
  19. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 402
  20. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 138, dẫn theo thư của giáo sĩ Le Roy và giáo sĩ Sérard
  21. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 139, dẫn theo thư của giáo sĩ Sérard
  22. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 140, dẫn theo thư của giáo sĩ Sérard
  23. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 148
  24. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 151 - bến Tây Long được xác định là khu vực giữa đầu phố Tràng Tiền và bãi Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm hiện nay
  25. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, sách đã dẫn, tr 564-565
  26. ^ Nguyễn Phan Quang, sách đã dẫn, tr 208-213
  27. ^ Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 156