Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam

Lịch sử ra đời nhà máy điện nguyên tử di độngcủaLiên Xô

Vào những năm 1950, ý tưởng xây dựng trạm năng lượng nguyên tử có thể vận chuyển được vẫn còn là “chuyện viển vông”. Nếu có thể lắp đặt những lò phản ứng hạt nhân trên tàu thủy nguyên tử và tàu ngầm, thì tại sao không thể đưa chúng lắp vào các phương tiện trên cạn? Vì vậy, ý tưởng đặt nhà máy điện nguyên tử “trên các bánh xe” di động đã làm cho Bộ trưởngBộChế tạocơ khíhạng vừa Liên Xô Efim Slavsky lúc đó tỏ ra hào hứng. Bởi lẽ, điều này sẽ giúp Liên Xô đảm bảo cho người dân vùng Cực Bắc và Viễn Đông của nước này nguồn năng lượng điện và nhiệt sưởi ấm với giá rẻ. Tại thời điểm đó, chính phủ Liên Xô phải cung cấp cho những khu dân cư và căn cứ quân sự ở Bắc Cực hàng triệu tấn nhiên liệu mỗi năm.

Theo các tác giả Bộ bách khoa toàn thư “Chế tạo cơ khí” (tập IV-25), việc nghiên cứu chế tạo các trạm điện hạt nhân di động thế hệ đầu tiên được tiến hành vào những năm 1950-1960. Trên cơ sở phản ứng năng lượng nước-nước, người ta đã tạo ra lò nhiệt điện được lắp trên khung gầm của xe tăng T-10. Trong số những trạm di động thời kỳ đó có trạm ARBUS (Trạm hình khối Nam Cực), cũng như thiết bị BK-50 đến nay vẫn còn hoạt động tại thị trấn Dimitrovgrad (Bulgaria).

Thế hệ thứ hai của nhà máy điện nguyên tử di động là những trạm “Phương Bắc-2” và “Volnolom-3”, được xây dựng vào những năm 1970. Năm 1981, Viện nghiên cứu Kurchatov đã đưa vào vận hành trạm nhiệt điện trưng bày-thử nghiệm “Gamma”. Trạm này sau đó hoạt động được gần 20 năm.

Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam
Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam
Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam
Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam
Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam
Nhà máy điện nguyên tử di động “Pamir-630D”. Nguồn: russian7.ru.

Nhà máy điện nguyên tử “đặt trên bánh xe”

Kinh nghiệm tích lũy được là rất hữu ích cho những nhà thiết kế nhà máy điện nguyên tử di động “Pamir-630”. Việc thiết kế chế tạo nhà máy này diễn ra tại Viện Năng lượng hạt nhân (thuộc Viện hàn lâm khoa học Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Belarus) vào những năm 1976-1985. Đầu những năm 1980, người ta đã xây dựng hai mẫu thử nghiệm, những mẫu này tại thời điểm đó là những nhà máy điện nguyên tử “đặt trên bánh xe” duy nhất trên thế giới.

Nhìn bề ngoài, nhà máy điện nguyên tử di động “Pamir-630D” là một tổ hợp gồm toa rơ-moóc nặng hàng tấn được gắn vào đầu xe máy kéo quân sự MAZ-796. Phía sau những tấm chắn kim loại kiên cố, người ta đặt lò phản ứng công suất 630 kW và các khối tuabin phản lực. Trên hai chiếc xe khác là các máy tính điều khiển “Minsk” và khoang làm việc cho đội ngũ nhân viên vận hành lên tới 28 người.

Những chiếc xe có sức vượt địa hình cao có thể vận chuyển “Pamir-630B” đến bất kỳ vị trí nào trên đài nguyên và đầm lầy của vùng Cực Bắc. Nhà máy điện nguyên tử khi đó sẵn sàng hoạt động trong điều kiện nhiệt độ môi trường thấp nhất.

Khai tử “Pamir-630D”

Các nhà chế tạo mong muốn tạo ra nhà máy điện nguyên tử di động có thể hoạt động liên tục 2.000 giờ. Tuy nhiên, một trong hai nhà máy “Pamir-630D” đã vận hành được 3.000 giờ, và thực tế, nhà máy này chạy ở công suất thấp hơn so thiết kế. Trong khi đó, lượng nhiên liệu hạt nhân dự trữ đủ để chạy thêm vài năm nữa.

Đến đầu giai đoạn thực hiện chính sách “Cải tổ”, chính phủ Liên Xô dự tính rằng, những nhà máy điện nguyên tử công suất nhỏ sau này sẽ đảm bảo năng lượng điện và nhiệt sưởi ấm cho khoảng 33 khu dân cư ở vùng Cực Bắc của nước này. Tuy nhiên, sự cố nhà máy điện nguyên tử Chernobyl đã dẫn đến việc hủy bỏ các chương trình phát triển năng lượng nhỏ được chính phủ Liên Xô phê duyệt trước đó.

Đáng chú ý, nhà máy điện nguyên tử di động “Pamir-630” hầu như không gây ra mối nguy hiểm nào, bởi các nhà thiết kế đã cài đặt vào hệ thống 3 cấp độ an toàn. Để loại trừ yếu tố con người, nhà máy này có thể vận hành ở chế độ tự động hóa tối đa. Tuy nhiên, việc thử nghiệm được tiến hành chỉ cách thành phố Minsk của Belarus chừng 6km. Vì vậy, đối với những người mới trải qua hậu quả của sự cố Chernobyl như người dân Belarus, thì đây là điều không hề dễ chịu về mặt tâm lý. Tháng 2-1988, Ủy ban quốc gia Liên Xô đã quyết định dừng thử nghiệm “Pamir-630D”.

Những dự án xây dựng trạm năng lượng hạt nhân mới được các nhà khoa học trong nước đưa ra đầu những năm 1990 cũng chỉ nằm trên giấy, do Nga khi đó thiếu nguồn ngân sách triển khai. Sang thế kỷ XXI, nhiều nước trên thế giới bắt đầu quan tâm trở lại việc xây dựng nhà máy điện nguyên tử công suất nhỏ. Rất có thể, kinh nghiệm của các nhà thiết kế chế tạo “Pamir-630” sẽ tiếp tục có ích cho Nga, nhất là trong bối cảnh sự hiện diện của nước này tại Bắc Cực ngày càng có ý nghĩa chiến lược và địa chính trị.

QUỐC KHÁNH (theo russian7.ru)

TP - Sự cố nổ ở một nhà máy điện nguyên tử Nhật Bản sau trận động đất và sóng thần hôm 11-3 khó có khả năng nghiêm trọng như thảm họa Chernobyl cách đây 25 năm. Quan trọng hơn, sự cố này sẽ không có khả năng xảy ra đối với nhà máy điện nguyên tử mà Việt Nam sắp xây dựng - PGS.TS. Vương Hữu Tấn, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (VAEC) cho biết.

Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Việt Nam

“Nếu xảy ra sự cố tương tự như vừa xảy ra ở nhà máy Fukushima,nhà máy điện nguyên tử mà Việt Nam sắp xây sẽ tự động giải nhiệt

bằng các cơ chế tự nhiên, không cần tác động của con người


cũng như không cần sử dụng nguồn điện bổ sung”, - PGS.TS Vương Hữu Tấn.

Khác xa vụ nổ ở Chernobyl

Thưa ông, vụ nổ ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima liệu có nguy cơ trở nên nghiêm trọng như vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở Liên Xô cũ năm 1986?

Trước hết, cần hiểu rõ về bản chất vụ nổ trong nhà máy điện hạt nhân Fukushima để giải thích cho mọi người hiểu, để tránh xem đây như vụ nổ của nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở Liên Xô năm 1986.

Đây là vụ nổ do hydro phát ra từ lò phản ứng do tiếp xúc với ôxy trong không khí ở trong toà nhà bao bên ngoài tòa nhà bảo vệ lò phản ứng. Toà nhà này không phải là tòa nhà bảo vệ chịu được áp lực cao. Tuy nhiên vụ nổ cũng chỉ làm hỏng tường và phần mái của nó, trong khi khung thép của mái tòa nhà này vẫn không ảnh hưởng gì. Còn vụ nổ không làm ảnh hưởng đến tòa nhà bảo vệ lò phản ứng chịu áp lực.

Xét về cấu trúc của nhà máy điện hạt nhân thì bên trong là thùng lò phản ứng (RPV) dày 20 cm bằng thép, sau đó là toà nhà bảo vệ lò phản ứng chịu áp lực (RBC) bằng bê tông cốt thép dày hơn 2 m. RPV và RBC là các cơ cấu chịu áp lực trong nhà máy điện hạt nhân. Khi xảy ra động đất, lò phản ứng tự động dừng lò, nhưng lượng nhiệt dư (chiếm khoảng 10%) cần phải được lấy đi để giữ cho tâm lò không bị cháy.

Tuy nhiên hệ thống bơm giải nhiệt của nhà máy điện hạt nhân Fukushima gặp sự cố do máy phát diezel cấp điện bị hỏng do sóng thần sau động đất gây lên. Điều này dẫn đến nước trong thùng lò giảm do bốc hơi và làm nhiệt độ thanh nhiên liệu tăng, dẫn đến nóng chảy thanh nhiên liệu. Áp suất trong lò tăng và hydro được tạo ra do tác dụng của nước và Zr trong thanh nhiên liệu.

Khi áp lực trong thùng lò phản ứng (RPV) cao quá mức cho phép, sẽ dẫn đến phải xả áp vào toà nhà bảo vệ. Cuối cùng áp suất trong toà nhà bảo vệ cũng tăng lên đến 840 kPa (viết tắt đơn vị đo áp suất - kilopascal) trong khi giá trị bình thường là 400 kPa. Vì vậy Công ty Điện lực Tokyo (chủ nhà máy) đã quyết định xả có kiểm soát không khí và hơi nước ra khỏi toà nhà bảo vệ lò phản ứng vào trong toà nhà bao bên ngoài.

Khi đó hydro đi kèm theo với không khí và hơi nước từ lò phản ứng đã được thoát ra ngoài vào toà nhà bao quanh và gặp ôxy trong không khí gây nổ. Vì hơi nước là từ lò phản ứng nên nó có kèm theo chất phóng xạ cesium-137 (Cs-137) và iodine-131 (I-131). Do đó, khi xảy ra vụ nổ, có một lượng phóng xạ thoát vào không khí.

Sự cố này, theo đánh giá của Nhật Bản, thuộc vào mức số 4 trong thang sự cố hạt nhân gồm bảy mức của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Để có thể hình dung về mức độ của sự cố này, có thể thấy tai nạn Chernobyl của Liên Xô năm 1986 thuộc mức số 7 và sự cố Three Mail Island ở Mỹ năm 1979 là xếp ở mức số 5.

PGS.TS. Vương Hữu Tấn.

Lò ở Việt Nam sẽ an toàn hơn

Theo chỉ đạo của Bộ Khoa học&Công nghệ Việt Nam, VAEC đã yêu cầu hai đơn vị của mình tổ chức quan trắc phóng xạ môi trường tại hai trạm quốc gia do hai đơn vị này quản lý. Ngoài ra, VAEC có tìm hiểu kỹ sự cố trên không?

Như tôi đã nói trên Tiền Phong, nếu có bất cứ sự bất thường nào, hai đơn vị được giao phải thông báo ngay cho VAEC. Đến chiều nay (14-3), vẫn chưa có bất thường nào về phóng xạ tại hai trạm của VAEC đặt ở Đà Lạt và Hà Nội.

Còn về vụ nổ, tất nhiên VAEC cũng được chỉ đạo ngay từ đầu tổ chức nghiên cứu sâu sắc bản chất của sự cố để có thể rút ra các bài học kinh nghiệm cho mình trong chương trình phát triển điện hạt nhân. Việc này cần có thời gian và nguồn thông tin đầy đủ.

Có một cơ chế làm nguội lò an toàn hơn không, khi chẳng may xảy ra tình huống như ở nhà máy Fukushima? Kiểu lò hạt nhân mà Việt Nam sắp xây dựng sẽ thế nào, thưa ông?

Sơ bộ có thể thấy rằng, thiết kế của toà nhà lò phản ứng của Nhật Bản là tương đối tốt, chịu được động đất lớn đến 9 độ richter và sóng thần.

Song, điểm yếu của hệ thống giải nhiệt dư của nhà máy Fukushima là vẫn sử dụng nguyên lý an toàn chủ động (active safety features), tức là hệ thống làm nguội lò phản ứng phải sử dụng nguồn năng lượng điện từ máy phát diezel trong trường hợp khẩn cấp. Những nhà máy này được xây dựng vào những năm 1970 và 1980, cho nên nguyên lý an toàn thụ động chưa được áp dụng.

Đối với Việt Nam, Nghị quyết của Quốc hội đã khẳng định phải sử dụng thế hệ lò phản ứng hiện đại, đảm bảo độ an toàn và kinh tế. Những lò phản ứng thế hệ thứ ba mà chúng ta lựa chọn sẽ có đặc tính an toàn thụ động.

Khi đó, nếu xảy ra sự cố tương tự như vừa xảy ra ở nhà máy Fukushima, nhà máy điện nguyên tử mà Việt Nam sắp xây sẽ tự động giải nhiệt bằng các cơ chế tự nhiên, không cần tác động của con người cũng như không cần sử dụng nguồn điện bổ sung.

Cám ơn ông.

Thảm họa nguyên tử Chernobyl xảy ra vào ngày 26-4-1986 khi nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở Pripyat, Ukraina (khi ấy còn là một phần của Liên bang Xô Viết) bị nổ. Đây được coi là vụ tai nạn hạt nhân trầm trọng nhất trong lịch sử năng lượng hạt nhân.

Do không có tường chắn, đám mây bụi phóng xạ tung lên từ nhà máy lan rộng ra nhiều vùng phía tây Liên bang Xô Viết, Đông và Tây Âu, Scandinav, Anh quốc, và đông Hoa Kỳ. Khoảng 60% đám mây phóng xạ đã rơi xuống Belarus.

Một nửa lượng phóng xạ đã rơi xuống bên ngoài lãnh thổ ba nước cộng hoà Xô Viết. Thảm hoạ này phát ra lượng phóng xạ lớn gấp bốn trăm lần so với quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima.