Tiểu luận tinh giản nội dung dạy học đại học

Academia.edu no longer supports Internet Explorer.

To browse Academia.edu and the wider internet faster and more securely, please take a few seconds to upgrade your browser.

Loading Preview

Sorry, preview is currently unavailable. You can download the paper by clicking the button above.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘIKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂNTIỂU LUẬNĐề tài: Sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huốngnhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông trongdạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT.Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt ThắngHọc viên: Trần Thị Thúy HạnhLớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2AHà Tĩnh, năm 20151A. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiMôn GDCD là một bộ môn thuộc khoa học xã hội. Nó phản ánh nhiều lĩnh vựckhác nhau của đời sống xã hội. Các tri thức khoa học trong môn GDCD là tri trức về triếthọc, CNXH khoa học, Kinh tế chính trị học, Đạo đức học, Pháp luật học, đường lối chínhsách của Đảng cộng sản Việt Nam. Các kiến thức đó được sắp xếp, bố trí hợp lí, cấu kếtchặt chẽ, lô gíc phù hợp với học sinh THPT. Môn GDCD vừa có vị trí thông thường củamột môn học vừa có vị trí đặc biệt của nó. Nó có nhiệm vụ như những môn học khác: trangbị tri thức, giáo dục tư tưởng tình cảm, rèn luyện kỹ năng , kỹ xảo, phát triển trí tuệ họcsinh.Học sinh cấp THCS cũng như cấp THPT đã được làm quen với với nhiều kiến thức củabộ môn GDCD. Mỗi nội dung của bộ môn GDCD đều góp một phần không nhỏ trong việchoàn thiện nhân cách của học sinh. Trong các kiến thức được trang bị cho học sinh có nộidung về pháp luật. Đây là những kiến thức cơ bản nhằm giúp học sinh có những hiểu biếtnhất định trong việc định hướng cho học sinh về mặt nhận thức cũng như hành động, biếtsống tuân thủ pháp luật, biết phát huy quyền công dân, biết phê phán và đấu tranh với lốisống xem thường pháp luật nhằm góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Học sinh từcấp THCS lên cấp THPT bắt đầu được tiếp cận và đi sâu hơn về các kiến thức pháp luật.Các em không chỉ nắm được nội dung cơ bản một số luật mà còn cao hơn nữa là các embiết phát huy các quyền của mình cũng như ý thức trách nhiệm trước pháp luật.Trước yêu cầu đổi mới về chất lượng của giáo dục đào tạo nói chung, chất lượnggiáo dục đối với học sinh THPT nói riêng trong giai đoạn hiện nay thì môn GDCDcàng có vị trí rất quan trọng trong đó bao gồm cả giáo dục ý thức pháp luật cho các emhọc sinh nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước..Xuất phát từ thực trạng dạy và học bộ môn Giáo dục công dân trong nhà trườngphổ thông hiện nay còn nhiều hạn chế về tất cả các mặt từ nội dung, đến phương phápcũng như hình thức tổ chức. Giảng dạy môn Giáo dục công dân trong nhà trường phổthông những năm gần đây gặt hái được nhiều thành công. Tuy nhiên, phương pháp dạyhọc ở nhiều nơi vẫn chủ yếu vẫn được diễn ra theo lối truyền thống, dạy chay họcchay, truyền thụ thụ động, một chiều, thầy giảng trò ghi chép.Phương pháp nghiên cứu tình huống (PPNCTH) là một phương pháp dạy học tíchcực với có nhiều ưu điểm nổi trội, nó giúp việc dạy học mang lại hiệu quả cao, làmtăng tính thực tiễn của môn học, giúp học sinh dần hình thành năng lực giải quyết cácvấn đề thực tiễn, làm tăng hứng thú học tập của học sinh,… Giáo dục công dân là môn2học có ý nghĩa cao trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách học sinh. Việc ápdụng phương pháp dạy học tình huống vào giảng dạy môn GDCD là cấp thiết. Xuấtphát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn: “Sử dụng phương pháp dạy học bằngtình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ trong dạy học môn Giáodục công dân” làm tiểu luận khoa học.2. Mục đích nghiên cứuNghiên cứu thực trạng của việc dạy và học pháp luật trong nhà trường đối với học sinhcấp THPT từ đó đề xuất việc ứng dụng phương pháp dạy học tích cực ( phương phápdạy học tình huống).3. Đối tượng nghiên cứuVận dụng phương pháp dạy học tình huống vào giảng dạy pháp luật ở trường THPT.4. Giả thuyết khoa họcViệc dạy kiến thức pháp luật ở trường THPT hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, nếugiáo viên biết vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các phương pháp thích hợp vàđặc biệt là biết vận dụng phương pháp tình huống khi dạy về nội dung pháp luật thìhiệu quả chắc chắn sẽ được nâng cao.5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tình huống trong giảng dạy bộmôn GDCD, đặc biệt là kiến thức về Pháp luật ở nhà trường THPT.- Đánh giá thực trạng giảng dạy kiến thức pháp luật ở trường THPT hiện nay.- Đề xuất phương pháp dạy học bằng tình huống đối với các kiến thức pháp luật ởchương trình GDCD lớp 125.2. Phạm vi nghiên cứuMột số bài dạy về pháp luật ở chươg trình lớp 12 bộ môn GDCD.6. Phương pháp nghiên cứuĐể thực hiện mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu tôi đã sử dụng cácphương pháp sau:Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.7. Đóng góp của đề tàiGiúp cho giáo viên biết xây dựng các tình huống vào giảng dạy kiến thức pháp luật ởtrường THPT.8. Cấu trúc của đề tàiĐề tài gồm: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luậnPhần nội dung gồm 2 chươngChương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn giảng dạy pháp luật ở trường THPT.3Chương II: Vận dụng các tình huống phục vụ giáo dục pháp luật cho học sinh.B. NỘI DUNGCHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁPDẠY HỌC BẰNG TÌNH HUỐNG NHẰM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌCSINH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống trongdạy học môn GDCD ở trường Trung học1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống1.1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy họcTrong các tác phẩm về lý luận dạy học, ta có thể tìm thấy nhiều định nghĩa vềphương pháp dạy học như:Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợpthống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạttới mục đích dạy học .Bất cứ phương pháp nào cũng là hệ thống những hành động có mục đích củagiáo viên, là hoạt động nhận thức và thực hành có tổ chức của học sinh nhằm đảm bảocho trò lĩnh hội được nội dung tri dục.Phương pháp dạy học đòi hỏi có sự tương tác tất yếu của thầy và trò, trong quátrình đó thầy tổ chức sự tác động của trò đến đối tượng nghiên cứu, mà kết quả là trò lĩnhhội được nội dung trí dục.Những định nghĩa này đã nêu lên được một cách khái quát về phương pháp dạyhọc. Qua quá trình nghiên cứu về phương pháp dạy học ta thấy rằng giữa dạy và họccó mối liên hệ mật thiết với nhau.Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học, chúng làhai hoạt động khác nhau về đối tượng, nhưng thống nhất với nhau vềmục đích, tác động qua lại với nhau và là hai mặt của một quá trình dạy học. Trong sựthống nhất này phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học có tính độclập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnhhưởng trở lại đối với phương pháp dạy.Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương pháp họccũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý, và bằnglôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra, đánhgiá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy, hai chức năng này gắn bó4hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viênchỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp haichức năng trên đây bằng chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầyvừa giảng vừa truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việctự học của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho phươngpháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại vừa phảitự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học sinh phải tiếp thu nộidung do thầy truyền đạt, đồng thời dựa trên toàn bộ lôgic bài giảng của thầy mà tự lựcchỉ đạo sự học tập của bản thân ( tự định hướng, tự tổ chức, tự thực hiện, tự kiểm tra đánh giá ). Người học sinh giỏi thường là người biết nắm bắt được lôgic cơ bản củabài giảng của thầy, rồi tự sáng tạo lại nội dung đó theo lôgic của bản thân. Vậy, trongphương pháp học, hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo gắn bó chặt chẽ với nhau, thâmnhập vào nhau, bổ sung cho nhau, như hai mặt của cùng một hoạt động.Dạy tốt, học tốt, xét về mặt phương pháp phải là sự thống nhất của dạy với học,và đồng thời cũng là sự thống nhất của hai chức năng riêng của mỗi hoạt động truyềnđạt và chỉ đạo trong dạy; tiếp thu và tự chỉ đạo trong học. Nói cách khác, dạy học tốiưu phải là sự dạy học mà trong đó, về mặt phương pháp, bảo đảm được cùng một lúcba phép biện chứng:Giữa dạy và học.Giữa truyền đạt và chỉ đạo trong dạy.Giữa tiếp thu và tự chỉ đạo trong học.Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và tổ hợp ba phương pháp họcứng với ba giai đoạn học tập.Giai đoạn 1: Tiếp thu ban đầu các thông tin.Trong giai đoạn này thầy giảng bài mới. Trò nghe, nhìn, hiểu, ghi chép và sơ bộnhớ những điều thầy giảng.Giai đoạn 2: Xử lý thông tin khi tự học.Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là sự tự học để xử lý thông tin, biến nóthành học vấn riêng. Ở đây trò phải sử dụng toàn bộ các thao tác tư duy.Giai đoạn 3: Vận dụng thông tin để giải bài tập.Đây là bước kết thúc của quá trình lĩnh hội một vấn đề. Nhiệm vụ của nó là vậndụng kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo việc giải quyết các bài tập nhận thức.Trong quá trình dạy và quá trình học thì quá trình dạy có vai trò chỉ đạo trongcả ba giai đoạn của quá trình học, quá trình dạy hợp lý thì quá trình học sẽ đạt kết quả5cao.1.1.1.2. Quan niệm về tình huống và phương pháp dạy học bằng tình huống* Quan niệm tình huống:“Tình huống là một hoàn cảnh thực tế, trong đó chứa đựng những mâu thuẫnxung đột. Người ta phải đưa ra một quyết định trên cơ sở cân nhắc các phương án giảiquyết khác nhau. Tình huống cũng có thể là một hoàn cảnh gắn với câu chuyện có cốttruyện, nhân vật, có chứa đựng xung đột, có tính phức hợp được viết ra để minh chứngmột vấn đề hay một số vấn đề của cuộc sống thực tế. Tình huống dạy học là nhữngtình huống thực hoặc mô phỏng theo tình huồng thực, được cấu trúc hóa nhằm mụcđích dạy học”.Tình huống bao giờ cũng là tình huống có vấn đề.“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bàitoán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyếtđược, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn đề học tập là những tìnhhuống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái (kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giảiquyết”.“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh tachưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tớimục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình huống này kích thích con ngườitìm tòi cách giải thích hay hành động mới. Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạtđộng nhận thức sáng tạo, có hiệu quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành độngtư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết vấn đề”.Xét về khía cạnh tâm lý thì: “Tình huống là trạng thái tâm lý độc đáo của conngười gặp chướng ngạy nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầugiải quyết mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước, mà bằng tìm tòi sángtạo tích cực đầy hứng thú, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương phápgiành kiến thức và cả niềm vui sướng của người phát hiện kiến thức”.Qua một số định nghĩa ta có thể hiểu tình huống có vấn đề trong dạy học là:tình huống học tập mà khi học sinh tham gia thì gặp một số khó khăn, học sinh ý thứcđược vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khả năng của mình thìhy vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào việc giải quyết vấn đề đó. Nghĩa làtình huống đó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của học sinh, đề xuất vấn đề vàgiải quyết vấn đề đã đề xuất.Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm6vụ cần giải quyết, một vướng mắt cần tháo gỡ. Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứuvà giải quyết tình huống sẽ là những tri thức mới , nhận thức mới hoặc phương thứchành động mới đối với chủ thể.Có ba yếu tố tạo thành tình huống có vấn đề:Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học.Sự tìm kiếm những tri thức và phương thức hành động chưa biết.Khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực.Đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề trong dạy học là những lúng túng vềcách giả quyết vấn đề, tức là vào thời điểm đó, tình huống đó thì những tri thức và kỹnăng vốn có chưa đủ để tìm ra ngay lời giải. Tất nhiên việc giải quyết vấn đề khôngđòi hỏi quá cao đối với trình độ hiện có của học sinh.* Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huốngPhương pháp dạy học bằng tình huống là phương pháp dạy học mà trongđó giáo viên đặt học sinh vào một trạng thái tâm lý đặc biệt khi họ gặp mâu thuẫnkhách quan của bài toán nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tự họ chấp nhận vàcó nhu cầu, có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó là bằng tìm tòi, tích cực, sáng tạo, kếtquả là họ giành được kiến thức và cả phương pháp giành kiến thức .Với phương pháp này giáo viên đặt trước học sinh một vấn đề sau đó cho cácem thấy rõ lợi ích về mặt nhận thức hay mặt thực tế của việc giải quyết nó nhưng đồngthời cảm thấy có một số khó khăn về mặt trí tuệ do thiếu kiến thức cần thiết nhưngthiếu sót này có thể khắc phục nhờ một số nỗ lực của nhận thức.Dạy học bằng tình huống có những đặc điểm sau:Giáo viên phải tạo ra được mâu thuẫn nhận thức, có điều học sinh chưa biết cầntìm hiểu, việc đi tìm lời giải đáp chính là đi tìm kiến thức, kỹ năng, phương pháp mới.Giáo viên gây được sự chú ý ban đầu, từ đó kích thích sự hứng thú tạo nên nhucầu nhận thức, khởi động tiến trình nhận thức của học sinh. Học sinh chấp nhận mâuthuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.Tình huống và vấn đề nêu ra phải rõ ràng, phù hợp với khả năng của học sinh.Từ những điều quen thuộc, bình thường đã biết phải đi đến cái mới (mục đích cần đạtđược) học sinh cảm thấy có khả năng giải quyết được vấn đề.Dạy học bằng tình huống là một trong những yêu cầu quan trọng của đổi mớinội dung, phương pháp dạy học, dạy học bằng tình huống là một trong những phươngpháp dạy học hiện đại, hay phương pháp dạy học tích cực.Giảng dạy theo phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức rộng cả vềlý luận và thực tiễn. Nếu chỉ có kiến thức lý luận lý thuyết thì giáo viên không đưa ra7được những tình huống, hoặc có đưa ra thì cũng không đúng với nội dung hoặc khôngsát thực tế. Từ đó làm cho người học không định hướng được cách giải quyết tìnhhuống, hoặc giải quyết sai.1.1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống1.1.2.1. Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng tình huốngVới tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trungtâm, dạy học bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:Thứ nhất: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học dễ hiểu và dễnhớ các vấn đề phức tạp’’. Thông qua các tình huống được phân tích, thảo luận, ngườihọc có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này mộtcách dễ dàng trong thời gian dài. Nếu học lý thuyết, người học có thể rơi vào tìnhtrạng “học vẹt”, học thuộc lý thuyết mà không hiểu nên rất mau quên thì phương phápgiảng dạy tình huống giúp người học hiểu được vấn đề một cách sâu sắc gắn liền vớiquá trình giải quyết tình huống đó.Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp người học nâng cao khảnăng tư duy độc lập, sáng tạo”. Nếu trong phương pháp dạy học truyền thống, quátrình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giáo viên và học sinh, trongđó giáo viên là người truyền đạt tri thức và học sinh là người tiếp nhận tri thức đó thìphương pháp dạy học bằng tình huống tạo ra một môi trường học tích cực có sự tươngtác giữa học sinh và giáo viên, giữa các học sinh với nhau. Trong đó, học sinh đượcđặt vào trong một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họphải dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ quanđiểm đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo viên khi giải quyếtmột tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án giải quyết sáng tạo. Bên cạnhđó, dạy học bằng tình huống còn giúp người học có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệmcho nhau; học được những ý kiến, quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làmphong phú hơn vốn tri thức của họ.Thứ ba: “Dạy và học bằng tình huống giúp người học có cơ hội để liên kết, vậndụng các kiến thức đã học được”. Để giải quyết một tình huống, học viên có thể phảivận dụng đến nhiều kiến thức lý thuyết khác nhau trong cùng một môn học hoặc củanhiều môn học khác nhau.Thứ tư: “Dạy học bằng tình huống thông qua việc giải quyết tình huống giúpngười học có thể phát hiện ra những vấn đề cuộc sống đặt ra nhưng bản thân chưa đủkiến thức giải quyết”. Cuộc sống vốn đa dạng và phong phú nên không loại trừ khảnăng phát sinh những tình huống mà người học và thậm chí cả người dạy chưa gặp bao8giờ. Trong tình huống này, người dạy phải định hướng và khơi gợi khả năng tư duyđộc lập, sáng tạo của người học được vận dụng, phát huy tối đa và không loại trừ khảnăng người học sẽ tìm ra được những các lý giải mới làm bổ sung thêm kiến thức chocả người học lẫn người dạy.Thứ năm: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho người học có thểrèn luyện một số kỹ năng cơ bản như kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận và thuyếttrình”. Đây là những kỹ năng quan trọng giúp cho người học có thể thành công trongtương lai. Học bằng tình huống giúp người học dễ dàng nhận ra những ưu điểm và hạnchế của bản thân khi họ luôn có môi trường thuận lợi để so sánh với các học viên kháctrong quá trình giải quyết tình huống. Từ đó họ sẽ có cơ hội học hỏi kỹ năng làm việcnhóm, tranh luận và thuyết trình từ những học viên khác. Phương pháp học bằng tìnhhuống cũng giúp người học phát triển các kỹ năng phát biểu trước đám đông một cáchkhúc chiết, mạch lạc, dễ hiểu; phân tích vấn đề một cách lôgic; hiểu biết thực tế sâurộng, biết vận dụng linh hoạt lý thuyết để giải quyết các tình huống thực tế; biết phảnbiện, bảo vệ quan điểm cá nhân, đồng thời có khả năng thương lượng và dễ dàng chấpnhận các ý kiến khác biệt, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác để làmphong phú hơn vốn kiến thức của mình.Nếu mục tiêu của giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay là dạy kiến thức, kỹnăng và thái độ thì phương pháp dạy học bằng tình huống nếu được áp dụng tốt có thểđạt được cả ba mục tiêu này.Thứ sáu: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho học sinh có khả năngnghiên cứu và học tập suốt đời, tăng cường khả năng tự định hướng trong học tập củahọc sinh, phù hợp với nhu cầu và sở thích của cá nhân người học”. Thông qua việcphân tích và thảo luận vấn đề, học sinh học được cách tiếp cận và giải quyết các vấnđề khác nảy sinh trong tương lai, biết cách tìm kiếm thông tin và trở thành người cóthể tự định hướng học tập và nghiên cứu sau khi đã tốt nghiệp.Thứ bảy: “Phương pháp dạy học bằng tình huống làm tăng sự hứng thú củaphần lớn học sinh đối với môn học”. Trong phương pháp học bằng tình huống, họcsinh là người chủ động tìm kiếm tri thức và quyết định kiến thức nào cần được nghiêncứu và học hỏi. Việc thảo luận cũng làm tăng hứng thú của học sinh đối với việc họcvì nó kích thích người học tham gia tích cực vào việc tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu,tìm ra giải pháp, tranh luận và lý giải vấn đề khoa học để bảo vệ quan điểm của mình.Sau khi thảo luận, học sinh vẫn có nhu cầu tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề để trảlời những câu hỏi được đặt ra trong buổi thảo luận.Cuối cùng: Giáo viên với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng9tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học sinh, đồng thờihọ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viênđể làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những họcsinh có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo. Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tìnhhuống, giáo viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tìnhhuống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.1.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huốngBên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huốngcòn có một số điểm hạn chế nhất định.Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng dạy bằngtình huống, các vấn đề xã hội thường được giải thích theo nhiều quan điểm khác nhautùy thuộc vào quan điểm, quan niệm sống, vào vốn kiến thức xã hội và kinh nghiệmcủa người học. Vì vậy, đôi khi cuộc thảo luận về tình huống sẽ không hướng theo conđường và dẫn đến một kết cục như người soạn thảo tình huống mong muốn, nhất làtrong những lớp học mà học viên đa dạng về trình độ và đến từ những vùng miền khácnhau, và giáo viên không có kinh nghiệp trong việc điều phối, dẫn dắt cuộc thảo luận”.Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi tinh thần tự học, tháiđộ làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng động. Tuy nhiên,hiện nay có khá nhiều học sinh không quen với phương pháp học bằng tình huống, họkhông có kỹ năng làm việc nhóm, thụ động, ỷ lại, không hợp tác từ đó làm giảm hiệuquả của phương pháp dạy học bằng tình huống”.Thứ ba: “Phương pháp dạy học bằng tình huống tốn nhiều thời gian của ngườihọc”. Trong phương pháp học truyền thống, trong một khoảng thời gian nhất định,giáo viên có thể cung cấp một lượng kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hệ thống, logiccho học sinh. Cùng lượng kiến thức đó, trong phương pháp học bằng tình huống, họcsinh phải tự mình tìm kiếm và đọc tài liệu, xử lý thông tin nên sẽ tốn thời gian hơn gấpnhiều lần so với phương pháp học truyền thống. Phương pháp dạy học bằng tìnhhuống đòi hỏi giảng viên phải là người tích cực, luôn đổi mới, cập nhật thông tin, kiếnthức và kỹ năng mới. Trong xã hội hiện đại, các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hộivà pháp luật thay đổi một cách nhanh chóng nên “tuổi thọ” của một tình huống rấtngắn. Có khi giảng viên mới xây dựng xong một tình huống, giảng dạy được một lầnđã phải thay đổi cho phù hợp.Có ý kiến cho rằng dạy học bằng tình huống là cách để thầy “nghỉ ngơi” vìtrong khi người học phải làm việc, người dạy không có việc gì để làm. Đây là một ýkiến sai lầm vì phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi những kỹ năng phức tạp10hơn trong giảng dạy, như cách tổ chức lớp học, bố trí thời lượng, đặt câu hỏi, tổ chứcvà khuyến khích người học thảo luận, dẫn dắt mạch thảo luận, nhận xét, phản biện…Đây thật sự là những thách thức lớn đối với giáo viên trong quá trình ứng dụngphương pháp này.1.1.3. Các loại tình huống và cách thức xây dựng một tình huống1.1.3.1. Các loại tình huống dạy họcÁp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống cho phép giáo viên sử dụngtình huống một cách rất linh hoạt. Tình huống có thể được dùng trong quá trình thuyếtgiảng hay để phục vụ giờ thảo luận như là trọng tâm của bài học. Tùy thuộc vào từngbối cảnh sử dụng, có thể chia tình huống theo mức độ phức tạp của nó thành nhữngloại như sau:Loại 1 – Tình huống đơn giản: “Loại này bao gồm các tình huống dưới dạngcác ví dụ minh họa với tình tiết đơn giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉkhoảng 4 - 5 câu. Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng củagiáo viên nhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và(2) kích thích học sinh tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp hơnloại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ thuyếtgiảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao gồm một hoặc một số vấn đề nhằmgợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống nàycần được giao trước cho học sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Cáctình huống không cần quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứuvà ghi nhớ những khái niệm khởi đầu của bài học”.Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức tạp nhấtvà được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để học sinh ápdụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc trong thựctiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại tình huống này yêu cầu học sinh khôngnhững phải nghiên cứu tài liệu được giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bịtheo yêu cầu của giáo viên. Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tìnhhuống, trong đó học sinh là người làm việc chính và giáo viên là người hướng dẫn chohọc sinh. Về nội dung, tình huống này có độ phức tạp cao nhất. Nó thường bao gồm ítnhất ba vấn đề xuyên suốt trong một hay nhiều bài học và do đó yêu cầu về sự chuẩnbị của cả học sinh và giáo viên cũng ở mức độ cao nhất”.Ngoài ba loại tình huống này ta cũng có thể phân chia các tình huống theo độmở của vấn đề trong tình huống. Theo cách phân loại này, giáo viên có thể xây dựng11các tình huống mở và các tình huống đóng. Tình huống mở là các vụ việc mà trong đólời giải để ngỏ hoặc có nhiều cách giải khác nhau. Loại tình huống này rất tốt trongviệc kích thích khả năng tư duy và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Khi học sinh xử lýcác tình huống thuộc loại này, vấn đề mấu chốt không phải là bản thân kết luận mà làcách thức để đi đến kết luận đó. Ngược lại, tình huống đóng là các tình huống dẫn tớimột kết quả cố định. Học sinh vẫn có thể chủ động xử lý tình huống xong giáo viên sẽđịnh hướng cho học sinh tới kiến thức chính thống. Loại tình huống này rất tốt để giáoviên bổ sung thêm cho học sinh kiến thức nội dung.1.1.3.2. Cách thức xây dựng một tình huống dạy họcĐối với giáo viên tình huống được xây dựng nên là đề giải quyết một vấn đềnào đó và qua quá trình đó giúp học sinh tiếp thu kiến thức. Vì vậy, quy trình xâydựng bài tập tình huống của giáo viên thường đi theo chiều ngược lại với quy trình giảiquyết bài tập tình huống của học sinh. Quy trình này có thể được mô tả bằng các bướcsau:Bước 1 - Xác định kiến thức cần truyền đạt.Bước 2 - Hình thành vấn đề.Bước 3 – Hình thành tiểu vấn đề.Bước 4 – Xây dựng tình tiết sự kiện của tình huống.“Việc xây dựng tình huống luôn bắt đầu từ nội dung kiến thức cần truyền đạttới học sinh. Nội dung kiến thức này có thể là một khái niệm nào đó giáo viên muốnhọc sinh nắm bắt được và phân biệt được với những khái niệm khác hay cũng có thể làmột nguyên tắc ứng xử nào đó mà giáo viên muốn học sinh hiểu và áp dụng được vàothực tiễn. Dựa trên những kiến thức này, giáo viên xây dựng nên những vấn đề màthông thường chính là những câu hỏi xuất phát từ bản thân kiến thức cần học sinh tiếpthu. Việc giải quyết vấn đề này có thể đòi hỏi trước tiên phải giải quyết một số vấn đềnhỏ khác và nếu vậy những vấn đề nhỏ cũng phải được xác định. Trên cơ sở các vấnđề và tiểu vấn đề, giáo viên sẽ xây dựng các tình tiết sự kiện để hình thành một tìnhhuống hoàn chỉnh. Ở bước cuối cùng này, giáo viên có thể có hai cách để xây dựngtình tiết sự kiện. Thứ nhất, giáo viên có thể dựa trên những vụ việc đã xảy ra và đãđược giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có những vụ việc liên quan tới những nội dungkiến thức mà giáo viên đang muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiếtcủa vụ việc đó rồi điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứhai, nếu không tìm được vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một tìnhhuống giả định. Trong trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt như phântích trên đây phải được tuân thủ”.12Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong quá trìnhdạy học bằng tình huống .1.2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học mônGDCD ở trường Trung học.1.2.1 Đặc điểm của địa bàn khảo sátBản thân tôi là giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD tại trường THPT NguyễnĐổng Chi- Lộc Hà- Hà Tĩnh đến nay đã được 10 năm. Trường thành lập từ năm 2001,cho đến nay trường đã có 25 lớp. Trong quá trình giảng dạy nhà trường không chỉ chútrọng đến dạy học kiến thức mà trường luôn luôn quán triệt nhiệm vụ: Giáo dục toàndiện cho học sinh ( Đức, Trí, Thể, Mỹ). Trong tương lai trường tiếp tục phát huytruyền thống, thi đua dạy tốt và học tốt, nhanh chóng đưa nhà trường ngày càng vữngmạnh. Mặc dù được giảng dạy ở một trường như vậy nhưng cá nhân tôi khi dạyGDCD nói chung và dạy pháp luật nói riêng có những thuận lợi nhưng đồng thời cũngcó không ít những khó khăn.+ Thuận lợi:- Cán bộ nhà trường tạo điều kiện để giáo viên có thể giảng dạy tốt nhất( tài liệu,các thiết bị dạy học, tổ chức các hoạt động ngoại khóa…)- Chương trình sách giáo khoa có nhiều đổi mới nên tạo được sự hứng thú chohọc sinh.- Tài liệu hỗ trợ công tác giảng dạy khá phong phú( thư viện nhà trường đãtrang bị khá đầy đủ các tài liệu về Luật cho giáo viên)- Việc trang bị trang thiết bị dạy học đã hỗ trợ khá tốt cho công tác giảng dạy.- Đội ngũ giáo viên được đạo tạo bài bản, có phương pháp tốt.- Học sinh trường chúng tôi được tuyển lựa trong cả tỉnh thông qua kỳ thituyển hàng năm do đó chất lượng học sinh đầu vào rất cao. Hầu hết các em đều cóý thức học tập tốt, có ham muốn lĩnh hội tri thức, cần cù học tập( đây cũng làtruyền thống hiếu học của người dân Hà Tĩnh nói chung).Nguyên nhân: Có được những thuận lợi trên là nhờ sự quan tâm của ngành, nhàtrường, đội ngũ giáo viên trong công tác giáo dục toàn diện cho học sinh.+ Khó khăn:- Một bộ phận nhỏ giáo viên ngại tự học, tự bồi dưỡng.- Việc ứng dụng thiết bị hiện đại vào hoạt động dạy và học còn hạn chế.- Việc vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống chưa được làm mộtcách thường xuyên.- Sách giáo khoa mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng nội dung một số bài còn13quá dàn trải, chưa đi sâu vào nội dung của một ngành luật cụ thể nên học sinh cũngcảm thấy khó tìm hiểu.- Ở cấp THPT học sinh khi lên lớp 12 mới được tìm hiểu cặn kẽ về pháp luật,tuy nhiên đây là thời gian các em đang rất lo lắng cho kỳ thi tốt nghiệp THPT vàđại học nên thời gian nghiên cứu pháp luật của các em cũng bị ảnh hưởng. Các giờhọc về pháp luật bị chi phối ít nhiều.- Một khó khăn nữa cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng của bộ môn đó là cáchnhìn nhận chưa thấu đáo từ phía gia đình cũng như xã hội đối với bộ môn.- Nhiều học sinh đã nhận thức được ý nghĩa to lớn của bộ môn nên đã tiếp thubài học tốt. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có một số em xem việc học chỉ là sự đối phó.Vì vậy đây cũng chính là trở ngại cho giáo viên khi giảng dạy bộ môn này.Nguyên nhân của những khó khăn trên:- Lâu nay bộ môn GDCD không tham gia vào các kỳ thi mang tầm quốc gia dođó học sinh chưa thực sự mặn mà với môn học.- Sự phân biệt đối với các môn học của học sinh và một bộ phận người dân.- Kiến thức SGK chưa đủ sức hấp dẫn đối với người học- Một số giáo viên chưa mặn mà với bộ môn cũng như chịu khó đổi mớiphương pháp.1.2.2 Thực trạng của việc sử dụng các PPDH nhằm giáo dục pháp luật cho họcsinh trong dạy học môn GDCD ở trường Trung họcNội dung pháp luật ở chương trình lớp 12 bộ môn GDCD liên quan đến khá nhiềuluật (Luật Hiến pháp, Luật Khiếu nại và Tố cáo, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dânsự, Luật Hình sự, Luật Giao thông đường bộ...). Để học sinh hiểu được kiến thức phápluật một cách cặn kẽ không phải là chuyện dễ. Bởi kiến thức pháp luật vốn dĩ đã khólại khô khan cho nên khó hấp dẫn đối với các em. Để khắc phục được điều này đòi hỏimỗi giao viên phải thực sự nổ lực trong việc nghiên cứu tìm tòi và vận dụng cácphương pháp, biết chắt lọc các thông tin mang tính thời sự để xây dựng các tình huốngcó tính thuyết phục với các em. Lâu nay một số giáo viên đã làm được điều này. Tuynhiên bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên ngại tìm tòi đổi mới phương pháp, vẫn sửdụng phương pháp dạy học cũ là thuyết trình do đó không phát huy được tính tự họccủa các em và làm cho việc dạy và học diễn ra một cách thụ động theo kiểu: Thầygiảng - trò nghe, thầy hỏi- trò trả lời, thầy đọc - trò ghi chép và học thuộc.Dạy bộ môn GDCD nói chung và kiến thức pháp luật nói riêng phải theo hướng pháthuy tính tich cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng cho học sinhnăng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. Quá trình14dạy học là quá trình học sinh được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viênthiết kế, tổ chức và hướng dẫn qua đó các em có thể tự khám phá và chiếm lĩnh nộidung bài học. Học sinh sẽ hứng thú, thông hiểu và ghi nhớ những gì các em nắm đượcqua hoạt động chủ động tích cực của chính mình.1.2.3 Những thành công và hạn chế1.2.3.1 Những thành công:Những năm gần đây cùng với việc dạy học tiếp cận với các phương pháp mới( phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đóng vai, phương pháp dự án, phươngpháp điều tra khảo sát, phương pháp tình huống...) đã đem lại hiệu quả cao cho việcgiảng dạy. Học sinh không còn thụ động trong việc lĩnh hội tri thức. Các em đã biết tựnghiên cứu học hỏi, giáo viên với tư cách chỉ là người hướng dẫn. Nhiều giáo viên đãmạnh dạn đổi mới phương pháp, mạnh dạn tiếp cận công nghệ thông tin nên đã thu hútđược các em đối với bộ môn, phát huy được tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo,rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thứcvào các tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn.Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi trên việc vận dụng các phượng pháp dạy họchiện nay vào quá trình giảng dạy đặc biệt là giảng dạy pháp luật cũng gặp không ít khókhăn.1.2.3.2 Những hạn chếTrong việc vận dụng phương pháp vào dạy học có thể nói đang gặp sự bất cập đó làkhông phải giáo viên nào cũng mặn mà với việc này, bởi nó chiếm khá nhiều thời giancũng như công sức của người giáo viên. Bên cạnh đó điều kiện để hỗ trợ cho việc vậndụng các phương pháp cũng có nhiếu khó khăn (kinh phí cho làm các dự án, viết kịchbản cho đóng vai, thời gian để xây dựng các tình huống...). Một khó khăn nữa là sựhợp tác của học sinh, một số em theo nếp học cũ thụ động nghe thầy cô giảng, lười suynghĩ, ỷ lại bạn bè do đó cũng gây khó khăn cho việc đổi mới phương pháp.1.2.3.3 Nguyên nhân: Có một số nguyên nhân cơ bản sau:- Giáo viên:+ Không chịu học hỏi, lười suy nghĩ+ Ngại tiếp cận với công nghệ thông tin.+ Chưa tự tin trong việc đổi mới các phương pháp dạy học.+ Việc xây dựng các tình huống còn gặp nhiều lúng túng.-Học sinh:+ Vẫn quan niệm phân biệt đối với các môn học do đó việc còn học mang tính đốiphó.15+ Thái độ ỷ lại thầy cô và bạn bè, không chịu hợp tác với thầy cô và các bạn trongviệc tự lĩnh hội tri thức. Đây cũng chính là lý do làm cho một số giáo viên cảmthấy không mặn mà khi bỏ công sức và thời gian để vận dụng các phương pháp khidạy về kiến thức pháp luật.Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học tình huống chúng ta cóthể thấy được đây là phương pháp dạy học rất phù hợp đối với nội dung pháp luậtkhông chỉ đối với học sinh cấp THPT mà bao gồm cả học sinh THCS.Trong thực tiễn giảng dạy nhiều giáo viên đã mạnh dạn lựa chọn phương pháp này.Tuy nhiên vẫn có giáo viên còn ngại ngần vì lý do này hay lý do khác. Trên cơ sở lýluận và thực tiễn của việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc biệt là dạy pháp luậtở trường phổ thông tôi nhận thấy việc vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huốnglà điều thực sự cần thiết. Tuy nhiên để góp phần thành công trong việc giảng dạy đòihỏi giáo viên phải biết vận dụng phối hợp cùng với các phương pháp khác một cáchlinh hoạt chứ không phải nhất nhất giờ học chỉ vận dụng một phương pháp này. Nếulàm được điều đó chắc chắn bộ môn GDCD nói chung đặc biệt là kiến thức pháp luậtsẽ không còn là sự nhàm chán với các em.CHƯƠNG 2XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD NHẰM GIÁODỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT.2.1. Căn cứ vào mức độ phức tạp để xây dựng một số tình huống khi giáo dục phápluật cho học sinh THPT.Loại 1: Tình huống giản đơnVí dụ: Chị Hà và anh Nghĩa yêu nhau đã được 5 năm. Hai người quyết định sẽ tiến đếnhôn nhân. Khi biết quyết định của con bà Hồng mẹ của chị Hà đã phản đối kịch liệt vilý do anh Nghĩa nhà rất nghèo, lấy anh Nghĩa chị Hà sẽ khổ. Chị Hà giải thích thế nàomẹ chị vẫn cứ khăng khăng không chịu. Chị Hà hoang mang không biết xử sự thế nàocho đúng.Hỏi: Theo em anh Nghĩa và chị Hà có quyền quyết định việc hôn nhân của mìnhkhông? Tại sao?Tình huống này có thể vận dụng vào Bài 2: Thực hiện pháp luật (cụ thể là vận dụng16vào nội dung “ Sử dụng pháp luật”).Qua tình huống trên học sinh có thể biết được ngay đây là quyền của công dân tronglĩnh vực hôn nhân và gia đình, trên cơ sở đó học sinh có thể kể thêm được rất nhiểuquyền mà công dân, tổ chức cần phải phát huy. Với tình huống giản đơn giáo viênkhông cần mất quá nhiều thời gian để xây dựng tình huống cũng như giải thích cho cácem. Tự bản thân các em có thể giải quyết được tình huống.Loại 2: Tình huống phức tạpVí dụ: Chị Hương về quê với một số vốn lớn sau nhiều năm lao động vất vả ở nướcngoài. Chị dự địnhthành lạp doanh nghiệp và kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng. Cóngười khuyên chị không nên đầu tư vào lĩnh vực trên vì ở đó có nhiều doanh nghiệpNhà nước đang hoạt động, những người lãnh đạo các doanh nghiệp này đều là namgiới, chị là phái nữ chắc chắn sẽ bị các doanh nghiệp trên gây khó khăn trong kinhdoanh. Vì thế chị nên tìm một lĩnh vực kinh doanh phù hợp với mình hơn.Câu hỏi:Câu 1: Em có nhận xét gì về lời khuyên trên?Câu 2: Nếu là cán bộ lãnh đạo của địa phương, em sẽ làm gì trước sự việc trên?Tình huống này sẽ áp dụng vào bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnhvực của đời sống xã hôi (nội dung “ bình đẳng trong lao động”).Để trả lời được câu hỏi trong bài tập tình huống này đòi hỏi học sinh phải biết đượcquy định cụ thể trong điều Luật của Bộ Luật lao động.Điều 109 Bộ luật Lao động quy định: “Nhà nước đảm bảo các quyền làm việc củaphụ nữ bình đẳng về mọi mặt đối với nam giới, có chính sách khuyến khích người sửdụng lao động tạo điều kiện dể lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộngrãi chế độ làm việc có thời gian biểu linh hoạt...”Điều13 Luật đầu tư quy định: các nhà đầu tư có quyền tự đầu tư, kinh doanh chủđộng trong việc “ lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy độngvốn, địa bàn, quy mô đầu tư, đối tác đầu tư và thời hạn hoạt động của dự án”, chủ độngđăng kí kinh doanh một hoặc nhiều ngành nghề; thành lập doanh nghiệp theo quy địnhcủa pháp luật; tự quyết định về hoạt động đầu tư kinh doanh đã đăng kí”.Căn cứ vào nội dung mà giáo viên muốn chuyển tải đến học sinh để xây dựng tìnhhuống phù hợp. Ngoài việc đưa ra tình huống giáo viên phải chuẩn bị các điều Luật đểcác em hiểu thêm về các kiến thức pháp luật thông qua các nghành luật cụ thể. Tìnhhuống này liên qua đến ngành Luật Lao động, qua đó trang bị một số hiểu biết cho cácem và hình thành ở các em thái độ biết tôn trọng người lao động trong đó bao gồm cảlao động nữ.17Loại 3: Tình huống đầy đủVí dụ: Tại khoa xét nghiệm máu của bệnh viện Đa khoa Hoài Đức ( Hà Nội), Trưởngkhoa cùng các kỹ thuật viên đã thực hiện việc “ Nhân bản kết quả xét nghiệm máu”.Đây là hành vi vô cùng nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân. ChịHoàng thị Nguyệt cán bộ khoa xét nghiệm đã rất bất bình vì việc này.Câu hỏi:Câu 1: Em hãy chỉ ra hành vi vi phạm pháp luật trong tình huống trên? Hành vi đóthuộc loại vi phạm nào?Câu 2: Hãy cho biết các trình tự chị Nguyệt tiến hành để ngăn chặn các hành vi viphạm pháp luật trên?Tình huống này được áp dụng vào bài 7: Công dân với các quyền dân chủ (mục 3:Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân)Đây là một tình huống được xây dựng dựa trên một vi phạm pháp luật đã xẩy ra trongđời sống xã hội. Có thể sẽ có nhiều học sinh biết được nội dung này. Tuy nhiên để cácem biết một cách cặn kẽ và đầy đủ thì điều đó lại càng có ích cho các em. Những tìnhhuống được xây dựng dựa trên cơ sở có thực sẽ có tính thuyết phục cao đối với cáchọc sinh. Tuy nhiên để làm được bài tập tình huống này đòi hỏi học sinh phải sử dụngcác kiến thức của nhiều bài học( kiến thức về vi phạm pháp luật, các loại vi phạm phápluật, quyền và nghĩa vụ của công dân...)Nếu em nào quá trình học nghiêm túc sẽ trả lời được bài tập này.Những tình huống như thế này có cái khó nhưng cũng có sự hấp dẫn đối với học sinh,nó sẽ phát triển được trí tuệ của các em, khắc phục được việc học thụ động như lâunay.Trên đây là các tình huống được xây dựng dựa trên cơ sở từ đơn giản đến phức tạp.Giáo viên tùy vào nội dung bài dạy, tùy vào đối tượng học sinh để vận dụng sao chođạt hiệu quả cao nhất - đó là trách nhiệm của mỗi giáo viên.2.2.Bài dạy thực nghiệmBài 4: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂNTRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG Xà HỘI (Tiết 2 )I. MỤC TIÊU BÀI HỌCHọc xong tiết 2 bài 4 học sinh cần nắm được:1.Về kiến thức:- Hiểu được khái niệm, nội dung quyền bình đẳng của công dân trong lao động,- Xác định trách nhiệm của bản thân182.Về kĩ năng:- Biết thực hiện và nhận xét việc thực hiện quyền BĐ của công dân trong laođộng,3.Về thái độ:- Tôn trọng quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực lao động- Phê phán những hành vi vi phạm quyền bình đẳng trong lĩnh vực lao động.II. TÀI LIỆU, PHƯƠNG TIỆN, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC KĨ NĂNG SỐNG- Tài liệu:+ SGK GDCD12, chuẩn kiến thức kĩ năng, bài tập tình huống GDCD12+ Tài liệu phổ biến GD PL, Bộ luật lao động- Phương tiện:+ Sơ đồ thể hiện nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động+ Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu- Phương pháp:+ Thảo luận lớp, khai thác kiến thức từ hình ảnh, phân tích tình huống- Các kĩ năng sống:+ KN tìm kiếm và xử lý thông tin về bình đẳng quyền, nghĩa vụ trong laođộng, KN hợp tác tìm hiểu nội dung…, KN tư duy phê phán trường hợp vi phạmquyền bình đẳng của công dân trong lao động.III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC1. Ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số lớp học2. Kiểm tra bài cũ:H. Trong gia đình em, quyền bình đẳng giữa cha mẹ và con cái được thể hiện ntn ?Thực hiện quyền bình đẳng đó có ý nghĩa ntn đối với gia đình?3. Bài mới:ĐVĐ: Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người , tạo ra giá trị vật chất vàtinh thần cho XH- Đó là động lực chủ yếu quyết định sự phát triển của XH. Ở nướcta, quyền bình đẳng trong lao động được thể hiện như thế nào?Hoạt động của giáo viên và học sinhNội dung kiến thức cần đạt2. Bình đẳng trong lao độngHoạt động 1: Phân tích ví dụ qua hình ảnh để a) Thế nào là bình đẳng trong laotìm hiểu khái niệm bình đẳng trong lao động. động?(GD KN tìm kiếm và xử lý thông tin)GV: chiếu hình ảnh GV, công nhân, nông dângặt lúa...19=> Những hình ảnh trên mô tả cuộc sống lđ củanhân dân trên nhiều lĩnh vực khác nhau.H. Lđ có vai trò gì đối với con người và XH?=> Để mqh giữa người với người trong quátrình lđ trở nên tốt đẹp và có tác động tích cựcvào sự phát triển của XH- nguyên tắc bìnhđẳng là quan trọng nhất.Vd: Giả sử A,B,C đều có quyền tìm việc làm- Bình đẳng trong lao động được hiểu làvà nhất trí làm cho Ông X. Vậy A,B,C đều cóbình đẳng giữa mọi công dân trong việcquyền làm việc như nhau, bình đẳng theo hợpthực hiện quyền lao động thông qua tìmđồng. Ông X phải đối xử với A,B,C như nhau.kiếm việc làm; bình đẳng giữa người laođộng và người sử dụng lao động thôngH. Quyền bình đẳng trong lao động được PLqua hợp đồng lao động; bình đẳng giữaqui định ntn?lao động nam và lao động nữ trong từngcơ quan, doanh nghiệp và trong phạm viH. Ý nghĩa của việc PL nước ta thừa nhậncả nước.quyền bình đẳng của công dân trong lđộng?b) Nội dung cơ bản của bình đẳng- Điều 55 Hiến pháp 1992 khẳng định : “Laotrong lao độngđộng là quyền và nghĩa vụ của CD”.* Công dân bình đẳng trong thực hiệnquyền lao độngHoạt động2: Thảo luận nhóm để tìm hiểu nộidung bình đẳng trong lao động(GD KN hợp- Quyền lđ: Là quyền của mỗi công dântác, tư duy phê phán trường hợp vi phạmđược tự do sử dụng slđ của mình theo PLquyền bình đẳng trong lđ)nhằm mang lại thu nhập cho bản thân, giaGV: Chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu cácđình và XH.nhóm giải quyết các bài tập tình huống sau.Mọi người đều có quyền làm việc, tự doNhóm 1, 2:Thảo luận tình huống để làm rõ nộilựa chọn việc làm và nghề nghiệp phùdung công dân bình đẳng trong thực hiệnhợp với khả năng của mình, không bịquyền lao động.phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tínTH: Anh B đã trúng tuyển vào công ty X vàngưỡng, tôn giáo, nguồn gốc gia đình,được mời đến công ty để kí kết HĐLĐ. Theothành phần kinh tế.đó anh sẽ làm việc tại công ty với thời hạn xácđịnh. Tuy nhiên khi xem bản hợp đồng, anhkhông thấy rõ công việc mà anh phải làm, thờigian và địa điểm làm việc. Anh đem thắc mắc20này trao đổi với BGĐ và đề nghị bổ sung* Công dân bình đẳng trong giao kếtnhững nội dung trên vào HĐLĐ. Tuy nhiênhợp đồng lao độngGĐ không đồng ý, ông ta nói với anh “ Chúngtôi đã thuê anh làm việc với mức lương cao,anh chỉ cần quan tâm đến điều đó, còn anh làmgì, ở đâu và khi nào là tùy thuộc vào sự phâncông của chúng tôi.”Em có nhận xét gì về hành động của ôngGĐCT?Theo em, anh B có quyền thỏa thuận với GĐvề những nội dung khác được ghi trong HĐkhông?Sau khi HS trình bày kết quả thảo luận, GV bổ- Khái niệm HĐLĐ: Là sự thỏa thuậnsung và phân tích thêm.giữa người lđ và người sử dụng lđ về việcGV giới thiệu điều 5, điều 29 luật lao độnglàm có trả công, điều kiện lđ, quyền vàH. Hợp đồng lao động là gì?nghĩa vụ củ mỗi bên trong quan hệ laoH. Tại sao phải ký kết HĐLĐ? (Hình ảnh)động.H. Việc ký kết HĐLĐ phải thực hiện theo- Nguyên tắc:những nguyên tắc nào?+ Tự do, tự nguyện, bình đẳng; không tráipháp luật và thoả ước lao động tập thể;giao kết trực tiếp giữa người lao động vớingười sử dụng lao động.* Bình đẳng giữa lao động nam và laođộng nữNhóm 3, 4: Thảo luận tình huống để làm rõnội dung công dân bình đẳng trong thực hiệnquyền lao động.TH: Chị Thủy, là công nhân ủi của công tymay (phải đứng), do chị có thai tháng thứ 7nên GĐ chuyển chị sang bộ phận kiểm tra- Bình đẳng về cơ hội tiếp cận việc làmthành phần (có thể ngồi) khác với hợp đồng đã- Bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khikí.tuyển dụngH1. Quyết định của GĐ là đúng hay sai? Vì- Đối xử bình đẳng tại nơi làm việc vềsao?việc làm, tiền lương, tiền công, BHXH,điều kiện lao động…21H2. Chị Thủy có quyền yêu cầu GĐ công tybố trí công việc phù hợp với mình không? Tạisao?H3. Giữa lao động nam và lao động nữ có gìkhác nhau?H. PLVN qui định ntn về quyền bình đẳnggiữa lđ nam và lđ nữ?GV : Sử dụng Chương X (Qui định đối vớic) Trách nhiệm của Nhà nước tronglao động nữ)- Luật Lao động sửa đổi, bổ sụngviệc bảo đảm quyền bình đẳng của5/2014 để phân tích. => Vì vậy, lđ nữ phảicông dân trong lao độngnâng cao trình độ về mọi mặt để khẳng định(Giảm tải)được vị trí của mình trong XH.H. Thế hệ trẻ hiện nay cần phải làm gì đểgóp phần thực hiện quyền bình đẳng tronglao động?4. Cũng cố, luyện tập:GV cho HS làm BTTH để củng cố kiến thức bài học:Anh Toàn và anh Tiến cùng được vào làm việc tại công ty điện tử Z. Do anh Toàn cóbằng tốt nghiệp loại khá nên được GĐ bố trí ở phòng nghiên cứu thị trường. Còn anhTiến chỉ có bằng tốt nghiệp loại TB nên GĐ sắp xếp về tổ bán hàng. Thấy vậy anh Tiếnthắc mắc và cho rằng anh không được bình đẳng với anh Toàn trong thực hiện quyềnlao động.Câu hỏi:1. Theo em, tại sao GĐ lại sắp xếp công việc của hai người khác nhau?2. Việc anh Toàn và anh Tiến được phân công làm việc khác nhau có bị coi là bất bìnhđẳng trong thực hiện quyền lao động không?IV. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP Ở NHÀ.- Học bài cũ,- Làm bài tập 4, 5. SGK .Trang 43- Xem trước nội dung tiết 3- Bài 4.SGK .Trên đây là một số tình huống tôi đã xây dựng để áp dụng vào quá trình dạy pháp luậtcho học sinh THPT. Trong thực tiễn giảng dạy bộ môn GDCD ở trường THPT tôi thấyviệc vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học là điều vô cùng cần thiết, nó có tínhchất quyết định đối với sự thành công của tiết dạy. Thành công của tiết dạy đó là giáoviên có tài năng trong việc tổ chức và lôi cuốn học sinh vào bài dạy, giáo viên không22phải làm việc nhiều, điều quan trọng là tạo cho các em sự say mê tìm tòi và nghiêncứu, chính tự các em sẽ chủ động trong việc lĩnh hội tri thức. Một trong những phươngpháp đem lại hiệu quả cao đối với người học chính là việc sử dụng phương pháp dạyhọc tình huống khi dạy bộ môn GDCD và đặc biệt là nó rất phù hợp khi vận dụng vàodạy pháp luật.2.3. Kiểm chứng:Thông qua các giải pháp đã thực hiện trong việc giảng dạy lớp 12 đã đạt được nhữngkết quả như sau:-Đối với lớp chưa áp dụng phương pháp dạy học tình huống:LớpSố học sinhSố học sinhSố học sinhSố học sinhnhận thức tốtnhận thứcnhận thức TBnhận thức0%khá15,6%75%Yếu9,4%12A-Đối với lớp áp dụng phương pháp dạy học tình huống:Lớp12B12CSố học sinhSố học sinhSố học sinhSố học sinhnhận thức tốtnhận thứcnhận thức TBnhận thức9.4%9.4%khá46.8%60,6%40.6%26.7%Yếu3.2%3,3%2.4.Kết quả đạt được:Dạy học tình huống là một trong những phương pháp giảng dạy hiệu quả nhằm khơidậy sự nhiệt tình của HS, khuyến khích HS tham gia bài học một cách sôi nổi, chủđộng. Ngoài ra HS cũng tập phản ứng với những tình huống phức tạp và “có thật” sẽgặp trong cuộc sống sau này. Cụ thề là:- Khả năng hoà nhập, kĩ năng giao tiếp tốt hơn.- Khả năng vận dụng kiến thức.- Kết quả và thành tích học tập cao hơn:+ Kiến thức của HS không bị bó hẹp ở lí luận mà còn mang tính thực tiễn.+ Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được vận dụngkiến thức vào thực tế cuộc sống.2.5.Bài học kinh nghiệm:Để tổ chức dạy học có hiệu quả, có nhiều phương tiện giúp giáo viên kích thích họcsinh tham gia bài học. Do đó, tuỳ theo nhu cầu và mục tiêu của mình, giáo viên có thểchọn các phương tiện phù hợp. Sau đây là một số cách giáo viên có thể dung:- Viết tình huống lên bảng phụ.23- Các tài liệu trực quan như hình ảnh.- Băng ghi âm hoặc hình.- Các tài liệu thu thập trên mạng internet.- Có sự tham gia nhiệt tình của học sinh.Tùy thuộc vào đối tượng học sinh, CSVC của nhà trường,…mà giáo viên có thểsử dụng để kích thích quá trình hoạt động của học sinh, tạo hứng khởi cho thành viêntrong lớp tham gia tiếp thu kiến thức.C. KẾT LUẬN1. Kết luận:Chúng ta nhận thấy rằng, việc giáo dục cho học sinh không chỉ là giáo dục kiếnthức, mà còn rèn luyện kỹ năng, đặc biệt là giáo dục thái độ, cách ứng xử, cư xử củacác em . Do đó, với vai trò và trách nhiệm đó, giáo viên không chỉ không ngừng đổimới phương pháp giảng dạy mà còn trực tiếp trao đổi, chia sẻ ở những vấn đề đờithường nhất, để các em hiểu rằng, chính các em mới là đối tượng chính trong tiến trìnhdạy và học hiện nay.Bằng cách giảng dạy thông qua các tình huống giúp cho học sinh nắm rõ hơn về nộidung kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện kĩ năng sống.Bản thân tôi nhận thấy rằng trong quá trình giảng dạy cũng rút ra được cho mìnhnhiều bài học kinh nghiệm bổ ích trong qua trình giảng dạy.2. Kiến nghị, đề xuất:Đây là một đề tài có phạm vi thực hiện rộng lớn và đòi hỏi thời gian, tâm trí củangười giáo viên cao. Do vậy trong quá trình thực hiện muốn đạt được thành côngngười giáo viên thực sự phải yêu nghề, mến trò phải chịu khó đọc nhiều, tìm hiểu thêmtư liệu thực tế mới có sức thuyết phục học sinh. Ngoài ra giáo viên phải được sự ủnghộ, giúp đỡ của nhà trường, đồng nghiệp, phải gắn hoạt động học tập trên lớp với cáchoạt động sinh hoạt văn hóa, giao lưu, trao đổi thì kết quả đề tài sẽ đạt chất lượng tốthơn.Đây là đề tài được tôi đúc kết từ những thực tiễn trải nghiệm của bản thân, do đó sẽkhông thể tránh khỏi sơ suất và sai sót. Mong nhận được những đóng góp quý báu củacác đồng chí để đề tài của tôi được trọn vẹn hơn, hoàn thiện. Tôi xin chân thành cảmơn.TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Sách giáo khoa, sách giáo viên GDCD 12.242. Chuẩn kiến thức kĩ năng GDCD 12.3. Tài liệu tập huấn chuyên đề đổi mới sách giáo khoa.4. Tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa 12.5. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 2004- 20076. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên GDCD trường THPT25

Video liên quan

Chủ đề